TS Mai Thanh Truyết: Tưởng Niệm Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

Anh Ba Huy đã ra đi gần 27 năm qua. Nhìn lại suốt đoạn đường anh đã đi, chúng ta thấy được gì? Rút ra được những gì trong suốt thời gian nầy? Chúng ta, những Đại Việt tiếp nối con đường anh đi có thực hiện đúng với những gì anh Ba đã từng ấp ủ và xây dựng không?

1 – Đại Việt và Con Đường Đang Đi

Lại thêm một năm nữa, hôm nay chúng ta lại cùng nhau làm Lễ Tưởng niệm Gs Nguyễn Ngọc Huy lần thứ 27, nhưng với một tâm trạng khác thường khá đặc biệt.

  • Đặc biệt trong tình hình Trung Cộng đang xâm thực lần lần Biển và Đất Việt Nam qua sự kiện đặt dàn khoan HD 981 lần thứ hai vào trong hải phận Việt Nam và thành lập khu tự trị tại cảng sâu Sơn Dương (Vũng Áng), chiếm một vùng Hà Tỉnh rộng 228 km2 (lớn hơn Ma Cao) vừa được Phó Thủ Tướng CS Hoàng Trung Hải ký giấy phép ngày 10/7/2014.
  • Đặc biệt, tuổi trẻ Việt Nam đã chuyển tải chủng tử “sợ” trong tâm khảm sang những người đang cầm quyền, bằng cách nêu lên quyết tâm chống sự áp bức của Trung Cộng, với các cuộc biểu tình ở khắp cả nước từ 5/3 cho đến hôm nay 1/7.

Một lần nữa tinh thần Nguyễn ngọc Huy lại được rực sáng khi thấy những hành động vừa nói của tuổi trẻ!

Vậy Đại Việt phải suy nghĩ, hành động & có những trách nhiệm gì với Việt Nam hôm nay & trong những thập niên sắp tới?

2 – Tiếp Nối Con Đường Nguyễn Ngọc Huy

Với tư cách một đảng viên Đại Việt, chúng tôi rất tự hào đứng dưới danh nghĩa đảng chính trị Đại Việt, đã do một thiên tài của đất nước là Cố Đảng trưởng Trương Tử Anh khai sáng và xây dựng khi vừa mới 25 tuổi, nhưng đã có khả năng lập thuyết “Dân Tộc Sinh Tồn” (DTST):

  • Để làm khung cho nền tảng lý luận,
  • Để điều hướng hoạt động đấu tranh vững mạnh cho các mục tiêu chiến lược lâu dài, và

(d) Để tạo điều kiện cho Đại Việt trường tồn đến ngày nay. 

Trên trận tuyến đấu tranh chống CSBV hiện tại, Đại Việt có thể giương cao ngọn cờ DTST, đặt trên căn bản đầy tình tự dân tộc và nhân bản, làm đối lực đương đầu với chủ nghĩa CS vô thần, mị dân, với ảo tưởng dựng nên một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà ngay cả những người đề xướng ra cũng không xác định được xã hội chủ nghĩa cụ thể là gì.

Mỗi người trong chúng ta, dù có những suy nghĩ nào dị biệt đi nữa, cũng khó có thể phủ nhận được tính cách mạng đầy nhân bản của chủ thuyết DTST. Chính chủ thuyết nầy, theo quan điểm của riêng tôi, cho đến ngày hôm nay, vẫn còn là một đối trọng vững chắc, đối với ý thức hệ của chủ thuyết Cộng sản, để từ đó áp dụng vào các điều kiện thực tế Việt Nam, hầu thúc đẩy nhanh hơn tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Đó là một xác quyết

Chúng tôi muốn lập lại một lần nữa, trước tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, cùng với vai trò của từng quốc gia trên thế giới, dù muốn dù không, Việt Nam cần phải hôị nhập vào cộng đồng nhân loại, trong đó chủ thuyết DTST có khả năng,  không phải để chuyển hóa, mà để xóa tan chủ nghĩa CS hiện đang cai trị Việt Nam.

3 – Quan Điểm Ban Đầu của Darwin 

Bây giờ, xin nói qua quan điểm ban đầu của Darwin, nhà tiến hóa đầu tiên khơi mở ra thuyết tiến hóa. Trong cuốn “On the Origin of Species” của ông, ngay từ những trang đầu tiên, chúng ta say mê, cảm khoái trước sự khám phá kỳ thú về sự khác biệt gene của loài vịt nuôi trong nhà và vịt hoang dã. Rồi từ đó, đưa đến sự khác biệt về môi trường sống của vịt ở các trại chăn nuôi tại hai nước Anh và Đức.

Tiếp theo là sự khám phá về trực giác của con chó đưa đến những điều kiện làm cho chúng sống chung với nhau v.v… Như vậy, khoa học từ đó, đã là một sự tiến hóa rồi, và sẽ tiến hóa mãi, cho đến khi con người chấm dứt sự hiện hữu trên hành tinh nầy …Và biết đâu một giống người nào khác sẽ tiếp tục sự tiến hóa sau đó.

Từ những suy nghĩ trên, có thể nói rằng, sự tiến hóa là một khái niệm về sự thay đổi của vạn vật, và khoa học, mà con người nhờ sự thay đổi và phát triển đó, đã lần lần khám phá ra…một vài sự hiểu biết trong sự tiến hóa. Do đó, sự tiến hóa thì vô cùng, mà khoa học chỉ có khả năng rất giới hạn trong việc hệ thống hóa, những kiến thức đã khám phá và những chứng minh về sự tiến hóa.

Con người, qua khoa học, cố truy tìm nguyên nhân của sự hâm nóng toàn cầu, qua nhiều cách suy nghĩ khác nhau, từ sự phát triển khoa học, và từ sự mưu cầu cho phúc lợi của con người v.v…

Tất cả những nguyên nhân vừa nói đều do “sự tiến hóa” của con người. Trong một chừng mực nào đó, phải chăng vấn đề hâm nóng toàn cầu, chỉ là một giai đoạn mới khác của sự tiến hóa?

 4- Đại Việt và Sự Biến Cải Học Thuyết DTST

Image result

Qua luật tiến hóa của Darwin, GS Nguyễn Ngọc Huy, người đã đề ra một lối nhìn mới, được biến cải từ học thuyết DTST, để thấy rằng sức mạnh của con người, chưa phải là một yếu tố then chốt, để đưa đến thắng lợi sau cùng, nhưng cần phải có nhiều yếu tố khác của môi trường chung quanh, mới quyết định sự thắng lợi tòan vẹn.

Do đó, Gs Huy đề xướng ra sự biến cải vừa nói, tức là khả năng thích nghi tùy theo hoàn cảnh, lúc tiến, lúc lùi để ứng phó với những thuận lợi cùng bất lợi. Để rồi, sau cùng, tranh thủ phần thắng lợi trước mọi tình huống, dù là bất lợi, cho đòan thể của mình. Khái niệm DTST biến cải, trong giai đoạn nầy, sẽ được hiểu theo ý nghĩa và chiều hướng của sự tiến hóa và sự tiến bộ của loài người.

Điều vừa nói đó, là một sự chuyển hướng lớn về luận thuyết của Đại Việt. Tên tuổi của GS Huy đã đựợc nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền thống Đại Việt. GS Huy còn đã đưa ra một số điều kiện cho sự sinh tồn trong luận thuyết biến cải cùng 2 hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài thân và tranh đấu bên trong, với chính nôị tâm của mình.

  • Từ suy nghĩ trên, công cuộc tranh đấu của GS Huy được thể hiện dưới hình thức ôn hòa hay bạo động tuỳ theo trường hợp và tùy theo diễn biến của hòan cảnh chính trị quốc gia trong từng thời điểm vừa nói.
  • Từ sự nhận định những khả năng tranh đấu vừa nói, GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước khác nhau như 3 định luật, để rồi căn cứ theo đó mà hành xử, tuỳ theo tình huống đang xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải, luật hợp quần và giáo dục.
  1. Luật sức mạnh, đứng trước thế phân cực mới trên thế giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu. Thí dụ như TC với khả năng kinh tế vừa vượt qua Nhựt Bổn chiếm vị trí thứ hai sau Hoa Kỳ.
  2. Luật biến cải, cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan cảnh và điều kiện trong tình trạng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình, để biến cải mọi hợp tác quốc gia, thì phải dựa theo quan điểm đồng thuận và đồng lợi cho đôi bên cùng có lợi (win-win situation) mà vẫn giữ được tính chất độc lập dân tộc.
  3. Luật hợp quần và giáo dục. Đây là một yếu tố nhập môn rất sơ đẳng, đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam, trong chương trình giáo dục tiểu học, qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính chúng ta, hiện tại bao nhiêu hệ phái của Đại Việt, đã thực sự làm suy yếu tiềm lực lớn lao của một Đảng, dù đã có quá trình tranh đấu lâu dài, và một thời đã được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam.

Tại sao lại như vậy?

Xin mỗi thành viên trong các hệ phái Đại Việt tự suy nghĩ và tìm ra lời giải cho chính mình!

Kể từ ngày thành lập đảng Đại Việt cho đến ngày nay, thế giới đã hoàn toàn biến đổi, đi từ một thế giới với những quốc gia khép kín đến hình thái một thế giới mở như ngày hôm nay. Tiến trình toàn cầu hóa, hẳn nhiên là một tiến trình phải hướng tới, vì sự phát triển chung của toàn cầu. Đây là một tiến trình tự nhiên trong phát triển, để cùng đưa các quốc gia đến gần nhau hơn và bổ túc cho nhau hơn, để đôi bên cùng được lưỡng lợi.

Hiện tại, trong nhiều lãnh vực kinh tế – kỹ thuật – khoa học và môi sinh, thế giới đang biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới đang thành hình. Trong bối cảnh đó, càng ngày càng thấy rõ ràng mọi người đều có trách nhiệm.

Những gì xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Rốt ráo hơn nữa, mọi người Việt đều có trách nhiệm về tình trạng thụt lùi của Việt Nam. Và dĩ nhiên đảng viên Đại Việt cũng phải có trách nhiệm trước dân tộc.

Nhưng, trách nhiệm đó sẽ được thể hiện như thế nào?

Đó là câu hỏi của tất cả đảng viên Đại Việt cùng phải hợp lực để có câu trả lời. Việc ứng dụng chủ thuyết DTST ngay từ bây giờ sẽ là một đề tài để mỗi đảng viên cùng suy nghĩ.

5 – Đại Việt và Sự Toàn Cầu Hóa

Chính vì vậy, tinh thần của đảng cách mạng ngày hôm nay không còn là một tinh thần “kín” nữa, mà phải là một đảng “mở”. Đảng phải mở, để cho người dân thấy hướng đi tích cực và rõ ràng của đảng để có thể tạo ra được sự đồng thuận nhiều hơn. Sự gìn giữ bí mật trong nội bộ, chỉ còn là những kế hoạch hành động trước khi thi hành để cho đối phương không phòng ngừa trước mà thôi.

Người Đảng viên Đại Việt ngày nay, đứng trước tiến trình toàn cầu hóa, phải là một nhân sự đầy năng động, có khả năng phục vụ quần chúng trong một xã hội mở, chứ không còn là một đảng viên bí mật, sống trong bóng tối và chỉ lộ diện ra ngoài xã hội trong những trường hợp bất khả kháng mà thôi.

  1. Người Đảng viên ngày nay, cần phải chuyển hóa bản năng vị kỷ thành một tinh thần hòa đồng cho cái chung của dân tộc, không còn tính vị kỷ trong ý nghĩa thấp nhất là phục vụ cho chính “cái ta” của mình.
  2. Người Đảng viên trong suy nghĩ mới ngày nay, cần phải chối bỏ mọi rào cản ngăn cách giữa đảng viên và đảng viên cũng như giữa đảng viên và đại chúng, để có được một sự hỗ tương sinh tồn, để tạo ra thế đứng vững mạnh, và để làm đối trọng cho mọi giao tiếp với các quốc gia khác.

Từ đó sẽ có rất nhiều quốc gia cùng đi tới tiến trình liên đới về cung và cầu, để đạt được sự đồng thuận chung. Đó là thế quân bằng và lưỡng lợi cho Việt Nam và thế giới, trong sự hòa đồng lý tưởng “bình thiên hạ”, cùng nhau đạt được một sự hỗ tương sinh tồn toàn cầu ngày nay. (Global economics).

Thêm vào đó, người Đảng viên Đại Việt hôm nay, ngoài tinh thần đòan kết, củng cố xây dựng đảng, phát triển sự đồng thuận nôị bộ, còn phải nỗ lực lấy lạị uy tín của Đảng đối với quốc nội và hải ngoại đã bị sứt mẻ trong hiện tại vì hiện tượng phân hóa. Làm được những điều đó, Đại Việt Dân Tộc Sinh Tồn mới hy vọng đẩy mạnh được tinh thần đấu tranh giành lại độc lập dân tộc, cũng như thuyết phục được sự hậu thuẫn của quốc tế trong công cuộc đấu tranh chung này.

6 – Đại Việt và Thế Giới Mở

https://i0.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2016/07/NguyenNgocHuy-1.jpg?fit=1024%2C678

Thế giới ngày nay là một thế giới hòan tòan mở: mở để đối thoại, mở để đi đến sự đồng thuận trong thế tương quan bổ túc hỗ tương lẫn nhau. Đảng Đại Việt trước sau, thiết nghĩ, cũng phải đi theo tiến trình nầy.

Đảng Đại Việt phải công khai lộ diện trước đại chúng. Thời đại của một đảng cách mạng kín, sống và làm việc trong bóng tối, đảng viên phải ẩn danh hay chỉ dùng bí danh để giữ bí mật về đảng tịch… đã qua rồi.

Đảng Đại Việt sẽ không còn là một đảng của cán bộ, mà phải là một đảng của cán bộ và quần chúng, công khai tranh đấu trên chính trường, nghị trường. Như vậy mới mong được toàn dân tin tưởng và hỗ trợ.

Đảng Đại Việt sẽ không còn giữ hình thức lãnh tụ trong mô hình hình tháp và trong đó chủ tịch đảng có tòan quyền hành động và nắm quyền lực tuyệt đối.

Đảng Đại Việt trong quan niệm của ngày hôm nay phải là một tập thể lãnh đạo phân quyền khoa học và phân minh. Trong đó ban lãnh đạo cùng nhau trao đổi với tinh thần đồng chí và tương kính để “quản trị” và “điều hành” đảng, mà hình thức giống như một công ty tư nhân tây phương, với tổ chức chính danh phân quyền hành chánh và quản trị dựa trên tam hợp nhân bản phân minh: hợp pháp, hợp lý, và hợp tình.

Thực hiện được những điều trên, chúng ta, người Đảng viên Đại Việt ngày hôm nay, mới có khả năng phục hoạt lại thế mạnh của Đảng trong thời kỳ chống Pháp giành lại độc lập. Do đó:

  • Chúng ta cần phải xem xét lại những khuyết điểm trong thời gian nắm giữ quyền lực thời Đệ Nhị Cộng hòa.
  • Và trong tương lai, chúng ta phải đẩy mạnh công cuộc tháo gỡ những bế tắc của dân tộc, do sự cai trị sai lầm của những người cộng sản chuyên chính Việt Nam.

7 – Đại Việt Hôm Nay-Ngày Mai và Chủ Nghĩa DTST

Ngày hôm nay, bất cứ người Đảng viên Đại Việt nào cũng phải được trang bị kiến thức, và phải có đỡm lược để phát huy tiếng nói của Đại Việt Dân Tộc Sinh Tồn. Phát huy không phải là nói suông là phải biết nói, biết viết.

  • Nói lên, viết lên chính nghĩa của chúng ta;
  • Nói và viết lên những sai trái của chế độ về những việc làm hiện tại của họ trong công cuộc quản trị đất nước Việt Nam;
  • Nói lên để tạo điều kiện cho cộng đồng dân tộc hiểu rõ hơn bộ mặt thật dưới bất cứ hình thức nào của chế độ độc đảng cai trị của CSBV.

Đó là Trách Nhiệm của Đại Việt Hôm Nay và Ngày Mai.

Thêm nữa, trong giai đọan nầy, người Đảng viên ĐV- DTST phải biết hy sinh cho đại cuộc bằng việc đóng góp vật lực, tài lực, và sự đóng góp dấn thân chân chính cho nhu cầu dành lại dân chủ, tự do và hạnh phúc chân thật cho người Việt Nam.

Đảng viên ĐV DTST của Việt Nam phải lên đường, bắt đầu ngay từ bây giờ, cùng nhau điều chỉnh hướng đi để có thể ứng hợp với khuynh hướng toàn cầu hóa trên thế giới, hầu tạo được một chất keo kết dính, để hình thành một hình thức “think-tank” và hy vọng rút ngắn tiến trình mang lại dân chủ, tự do cho Việt Nam.

Tóm lại, trong hiện tình chánh trị, Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn là luận thuyết duy nhất lấy dân tộc và ý thức nhân bản làm trung tâm nên có đủ điều kiện làm đối lực với chủ nghĩa cộng sản phi nhân, vô thần, đang đội lốt chủ nghĩa xã hội, lại còn đang qua giai đoạn “quá độ” xây dựng giai cấp tư bản đỏ cần thiết để phát triển.

Từ đó, chuyển qua di sản Nguyễn ngọc Huy với “xu hướng biến cải” kết hợp nhịp nhàng với bài phát biểu lịch sử của GS Nguyễn văn Bông tại Trường Ðại học Luật khoa, lót đường cho sự hình thành lực lượng đối lập cần thiết cho chế độ dân cử Việt Nam Cộng Hòa, trong đó, có Khối Dân Quyền  như là một thành tích không nhỏ trong thời điểm Đệ Nhị Cộng Hòa trước kia.

8- LỜI KẾT: 

Khi miền Nam mất, khi sang Mỹ, Gs. Huy, đã đi trong con đường hầm chưa thấy ánh sáng của Dân tộc Việt Nam, tuy nhiên, anh Ba đã bền bĩ, cô đơn, bôn ba khắp thế giới ngõ hầu quy tụ Đồng chí, Chiến hữu, và Đồng bào. Kết quả là Anh Ba đã được sự ủng hộ đồng tình khắp nơi qua phương trình Nguyễn Ngọc Huy với đáp số như sau:

Lực Lượng Quốc Nội + Lực Lượng Hải Ngoại + Yểm Trợ Thế Giới = Việt Nam

Và Anh Ba đã xây dựng được tổ chức “Ùy Ban quốc tế yểm trợ Việt Nam Tự Do“.

Do đó, để tiếp tục phát triển công trình Nguyễn Ngọc Huy, chúng ta cần vận động, nhen nhúm lại ngọn lửa đấu tranh theo các phương hướng vừa nói, mà chính GS Nguyễn Ngọc Huy đã nghiên cứu và kiểm nghiệm, thật thích hợp với bối cảnh chánh trị hiện tại, và được xác định rõ ràng rằng, đường hướng cách mạng bạo lực chống CSBV không còn thích hợp trong tương lai nữa.

Cho nên, để có cơ hội và triển vọng tương lai phát triển quốc gia, cùng đời sống kinh tế và tâm linh của mỗi người dân Việt được nâng cao hơn và hoà nhập với cộng đồng nhân loại, con đường ĐẠI VIỆT đang đi phải là sự nối tiếp tinh thần và chiến lược chính trị của Trương Tử Anh & Nguyễn Ngọc Huy đã vạch ra, và đã được xây dựng cùng rất nhiều Đồng Chí Đại Việt nằm xuống vĩnh viễn vì Dân Tộc Việt Nam. Đại Việt khẳng định con đường đó là:

  1. Thuyết DTST của cố CT Trương Tử Anh đã mở rộng không gian sinh tồn của chúng ta và đã bảo vệ người Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Pháp.
  2. Luật Biến cải về thuyết DTST mở rộng đến không gian sinh tồn của Gs Nguyễn Ngọc Huy đang mang đến một Đại Việt mở cho chúng ta.
  3. Ngày nay, chúng ta phải cùng nhau thực hiện thành công kế hoạch và chương trình cho MỘT ĐẠI VIỆT NHÂN BẢN MỞ, từ đó mới có thể bảo vệ được đất nước và nòi giống Việt Nam thoát khỏi Hán thuộc và Hán hóa do những thái thú biết nói tiếng Việt là CSBV tiếp tay!

Mong tất cả thành viện còn lại ngày hôm nay cần xem và nghĩ lại tinh thần Nguyễn Ngọc Huy. Đó chính là hình ảnh một người quốc gia chân chính, lúc nào cũng lạc quan và tin tưởng vào tương lai rạng rỡ dân tộc Việt. Vì vậy, chúng ta cương quyết tâm nguyện:

Một Đại Việt Nhân Bản Mở

Phải Hoàn Thành Trách Nhiệm

với Dân Tộc cho cả

Hôm Nay và Ngày Mai.

Mai Thanh Truyết

K nim v Anh Ba

Houston, 23-7-2017

Long lanh hột[1] nắng lưng trời

Gom mây[2] tôi viết đôi lời cho anh

Sinh tồn dân tộc đấu tranh[3]

Ba sanh hương lửa[4] bình minh quê nhà

Trần Minh Xuân

Chú thích:

  1. Chứ hột người Miền Nam VN thường dùng có 3 mẫu tự h, ộ, t; không như chữ hạt được người Miền Bắc VN và nhiều người thường dùng, nhưng mẫu tự thứ hai là ạ không mang ý nghĩa như chữ ộ [xin giải thích sau].
  • 3 mẫu tự tượng trưng theo văn hóa đông phương, đúng hơn là văn hóa VN, xây dựng trên lối sống chịu ảnh hưởng của tam giáo Phật, Lão, Khổng; tam giáo đồng qui nhứt thể;
  • 3 mẫu tự tượng trưng cho tam tài là Thiên, Địa, Nhơn; tức gồm Trời, Đất và Người; trên có Trời, dưới có Đất và ở giữa là Người; 3 mẫu tự này cũng tượng trưng cho ước vọng của con người là tam đa, tức Phước, Lộc và Thọ; nó cũng theo văn hóa “triangle” của tây phương là hình tam giác với cạnh dưới nằm ngang làm chân đế thăng bằng cho 2 cạnh còn lại chụm đầu thành góc nhọn vươn lên cao; hình ảnh của các “kim tự tháp” đời đời bền vững;
  • Chữ ộ khởi đi từ chữ o, mang hình ảnh tròn đầy, kín đáo không có chỗ hở; hình ảnh của “mẹ tròn con vuông” trong văn hóa đông phương;
  • Chữ ộ gồm chữ o trên có dấu mũ, tức là có trời che chở; và dưới có dấu nặng, tức là có đất làm nền tảng cho người đứng vững;
  • Chữ hột cũng mang ý nghĩ của hột giống, nó được gieo trồng cho thành cây, ra bông, kết trái, truyền thừa miên viễn…
  1. Lấy ý từ câu: “Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”; lấy ý từ Thơ Hàn Dũ đời Đường: “Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại?” Nghĩa là: Mây che ngang núi Tần, biết quê nhà ở đâu? ý nói Kiều nhớ nhà.
  2. Đấn tranh theo chủ nghĩa Dân tộc sinh tồn.
  3. Theo vă hóa Phật giáo Theo “Từ điển truyện Kiều” của cụ Đào Duy Anh thì sách “Truyền đăng lục” chép là: có người mộng thấy một vị lão tăng, trước mặt có tia khói rất nhỏ. Vị tăng nói rằng: “Đó là khói hương của một người đàn việt kết nguyện, người đàn việt đã trải qua ba kiếp mà hương vẫn còn”. Như vậy, tuy các dị bản có khác nhau ở một số chi tiết, nhưng về cơ bản nguồn gốc và con đường hình thành thành ngữ “hương lửa ba sinh” đều thống nhất. Trong tiếng Việt, thành ngữ “hương lửa ba sinh” được dùng để chỉ lời nguyền, lời thề có ứng nghiệm đến ba kiếp, ba đời người.