Trần Trung Chính: Tây Sơn Huynh Đệ

Theo sử gia Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược –  trang 102 -Tập II) ông tổ 4 đời của Nguyễn Nhạc là họ Hồ (cùng một tổ với Hồ Quý Ly của thế kỷ 15 – cuối đời nhà Trần) người ở huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh – chúa Nguyễn giao tranh, bị bắt đem vào ấp Tây Sơn thuộc đất Quy Nhơn. Đến đời ông thân sinh của Nguyễn Nhạc là Hồ Phi Phúc dời nhà sang ấp Kiên Thành (nay là làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn, sinh được 3 người con: trưởng là Nhạc, thứ là Lữ. thứ ba là Huệ (sử không ghi và thực tế cũng cho thấy 3 thủ lãnh của Tây Sơn không có chị và em gái).

Image result for Tây Sơn Huynh Đệ

Anh em ông Nhạc muốn khởi loạn, mới đổi sang họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm vì rằng trong Nam vẫn là đất của chúa Nguyễn. Ấp Tây Sơn nay là đất của thôn An Khê thuộc phủ Hoài Nhơn. Vì 3 anh em ông Nhạc – Lữ – Huệ khởi nghiệp ở đất Tây Sơn (1771) nên sử sách mới gọi là nhà TÂY SƠN. (Hết trích.)

Không có quyển sách sử nào ghi nhận năm sinh của Nguyễn Nhạc, cũng như của Nguyễn Lữ nên người viết không rõ là Nguyễn Nhạc lớn hơn Nguyễn Huệ bao nhiêu tuổi. Người viết phỏng đoán là Nguyễn Nhạc phải lớn hơn Nguyễn Huệ cỡ 12 đến 15 tuổi vì khi khởi loạn vào năm 1771, Nguyễn Nhạc đã là viên chức đi thu thuế cho guồng máy hành chánh của chúa Nguyễn. Là dân chơi “playboy” hay đánh bạc, Nguyễn Nhạc thua bạc mất hết cả tiền thu thuế nên nổi loạn để khỏi bị phạt (dĩ nhiên đã ham mê đánh bạc thì làm gì có chuyện thắng bạc bao giờ). Khi ấy Nguyễn Huệ mới có 19 tuổi (1771). Như các nguồn tin vừa nêu, Tây Sơn huynh đệ có 3 người nhưng người viết chỉ nêu có 2 người là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ trong bài viết này vì Nguyễn Lữ mờ nhạt trước ông anh Nguyễn Nhạc và người em Nguyễn Huệ: ông không có thành tích quân sự sáng chói nào trong giai đoạn đầu thành lập nhà Tây Sơn và ông qua đời khi nào cũng không ai biết.

Phải nói là Nguyễn Nhạc là người “táo bạo” và “có cơ trí” (dám làm và dám nghĩ), chưa bao giờ cầm quân mà cướp được thành Bình Định do tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên trấn giữ. Sau đó, bành trướng thế lực, Nguyễn Nhạc chiêu mộ binh sĩ tiến quân đánh chiếm Quảng Nam, chẳng bao lâu lan rộng ra từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận đều thuộc về Tây Sơn.

Năm 1776, Nguyễn Nhạc cho sửa lại thành Đồ Bàn (kinh đô cũ của Chiêm Thành), tự xưng là Tây Sơn Vương rồi phong chức tước cho mọi người đã phụ giúp mình. Tới năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, gọi thành Đồ Bàn là Hoàng Đế thành, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết Chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhượng Tướng Quân.

Nhà văn Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (khoảng đầu thập niên 1940) có viết một quyển sách có tựa đề QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ cho biết là thấy dạy võ và dạy chữ nghĩa cho anh em nhà Tây Sơn là Giáo Hiến (không rõ họ). Lai lịch của Giáo Hiến là sĩ phu vùng Thanh Hóa đã từng trợ giúp Lê Duy Mật chống lại chúa Trịnh, nhưng khi Lê Duy Mật bị đại bại, Giáo Hiến phải đào thoát trốn vào Quy Nhơn.

Tuy nhiên, theo suy luận của người viết, Giáo Hiến dạy võ cho anh em Tây Sơn là dạy phương pháp võ thuật chiến đấu cá nhân chứ không có khả năng dạy phương pháp điều binh cấp đại đơn vị. Nguyễn Huệ đã 4 lần vào Gia Định, trong đó có lần đã đánh tan quân Xiêm La vào năm 1784, ba lần ra Bắc đánh tan quân của chúa Trịnh rồi vào năm 1789 đánh tan 20 vạn quân Thanh khiến Tôn Sĩ Nghị phải tháo chạy trối chết (nghĩa là không có trận chiến nào sử dụng đến võ thuật chiến đấu cá nhân).  Như vậy người viết có thể kết luận chắc chắn là anh hùng NGUYỄN HUỆ là thiên tài quân sự của nước ta.

Người viết xin đưa 2 nhận vật nổi tiếng để làm đối chứng:

1) Nhân vật thứ nhất là Hưng Đạo Đại Vương TRẦN QUỐC TUẤN, ông được sự rèn cặp của Thái Sư Tể Tướng Trần Thủ Độ và chịu sự huấn luyện về binh nghiệp của tướng Lê Phụ Trần, ngay khi mới 25 tuổi đã làm Tư Lệnh đạo quân chống sự xâm lược của nhà Nguyên lần thứ nhất. Tướng Trần Quốc Tuấn đã có gần 30 năm chuẩn bị để đón đánh quân Nguyên xâm lược lần thứ hai do Thái Tử Thoát Hoan  cầm đầu. Trong khi đó, Tướng Nguyễn Huệ khởi nghiệp giúp ông anh Nguyễn Nhạc khi mới 19 tuổi và chưa hề có kinh nghiệm trận mạc nào cả.

2) Nhân vật thứ hai là Napoléon Bonaparte, ông này đã tốt nghiệp từ trường Võ Bị và đã từng chỉ huy các đơn vị cấp sư đoàn. Là sĩ quan pháo binh xuất sắc, ông đã ra lệnh vẽ bản đồ kỹ lưỡng theo phương pháp khoa học của toàn Âu Châu, trong khi tướng Nguyễn Huệ hành quân thì không thể nào có sẵn bản đồ như Napoléon được. Điển hình là khi tấn công quân Thanh, Quang Trung Hoàng Đế hoàn toàn dựa vào mạng lưới tình báo địa phương do tướng Ngô Văn Sở thiết lập khi ông rút bỏ Thăng Long về giữ Đèo Tam Điệp ở Ninh Bình (nghĩa là vua Tây Sơn Quang Trung Hoàng Đế biết rõ các cứ điểm đóng quân của quân Thanh mà Tư Lệnh chiến trường Tôn Sĩ Nghị thì lại mù tịt về sự chuyển động của binh đội Tây Sơn).

Image result for Tây Sơn Nguyễn Nhạc

Nguyễn Nhạc . Năm 1787, từ Phú Xuân, Bắc Bình Vương đem binh đội vào Quy Nhơn tấn công thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc phải lên thành khóc lóc và nói với  Nguyễn Huệ “đừng làm chuyện nồi da xáo thịt”. Nguyễn Huệ rút quân khỏi Quy Nhơn và trở về Phú Xuân. Các sách sử chỉ ghi nhận là 2 anh em có mối bất hòa, nhưng không ai nêu ra lý do của sự bất hòa đó là điều gì?

Theo sự suy luận của người viết, sự bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nằm ở “sự ý thức quốc gia của 2 lãnh tụ Tây Sơn”. Với Nguyễn Nhạc, “quốc gia” của ông từ Đèo Hải Vân trở về phía Nam tận vào Gia Định, Nguyễn Nhạc không muốn và không thích “cover” chuyện cai trị từ Đèo Hải Vân lên tới Ải Nam Quan. Bởi vậy khi chiếm được lãnh thổ của chúa Nguyễn ông lo hưởng thụ chớ không có chính sách cải tổ hay thay đổi nề nếp hành chánh địa phương gì hết.

Nguyễn Huệ thì có tầm nhìn lớn hơn nhiều, ông biết rõ các hậu duệ của nhà Lê không có tài kinh bang tế thế mà lại còn bị dư đảng con cháu chúa Trịnh khống chế, nếu Tây Sơn không lưu ý “take care” thi chắc chắn miền Bắc sẽ bị nhà Thanh nuốt chửng. Nguyễn Nhạc phong cho ông chức Bắc Bình Vương lo việc cai trị tử Đèo Hải Vân đến Thanh Hóa, cho nên nếu nhà Thanh đem quân xâm lăng nước ta, thì vùng đất do ông cai tri làm sao có đủ nhân lực và tài lực chống đỡ. Đó là lý do  Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ năm 1787 đem quân từ Phú Xuân vào Quy Nhơn định lật đổ ông anh “playboy” Nguyễn Nhạc.

Lưu ý: vì chỉ là sự suy đoán, cho nên người viết sẽ đón nhận tất cả những chứng cớ và lý cớ khác mà các vị thức giả có thể có để hậu thế hiểu biết rõ về nhà Tây Sơn hơn là những gì còn sót lại sau khi nhà Nguyễn Gia Long đã cố tình bôi bác vai trò lịch sử của nhà Tây Sơn cũng như  tiêu hủy nhiều văn kiện và sách vở trong thời đại Tây Sơn.

Quang Trung Hoàng Đế sinh sống vào cuối thế kỷ 18 (1752 – 1792), tài năng về quân sự của ông là điều hiển nhiên ai cũng biết. Nhưng mãi cuối thế kỷ 20, các nhà khoa học mới nghiên cứu về I.Q. (Intelligence Quotient) mà người viết nhận xét rằng trong 7 loại I.Q. thì Quang Trung Hoàng Đế không có nằm ở loại nào hết.

Theo bác sĩ tâm thần Howard Gardner, giáo sư đại học Harvard, I.Q. của người ta có 7 loại:

  • Loại thứ nhất: thông minh về toán học và lý luận.
  • Loại thứ hai: thông minh trong lãnh vực văn chương.
  • Loại thứ ba: thông minh trong thể năng (đây là chuỗi dây chuyền rất phức tạp giữa mệnh lệnh do não bộ đưa ra và các bắp thịt thi hành)
  • Loại thứ tư: thông minh trong không gian (đây là khả năng tưởng tượng nhìn thấy mọi vật trong không gian).
  • Loại thứ năm: thông minh ngay trong cá nhân mình (phải tự hiểu tình ý, tình cảm của mình để biết diễn tả cho mọi người cùng hiểu).
  • Loại thứ sáu: thông minh trong sự nối kết người và sự việc (các nghề dạy học, salesman, chính trị gia hay các lãnh đạo tôn giáo cần khả năng này)
  • Loại thứ bảy: thông minh trong lãnh vực âm nhạc.

Image result for Tây Sơn Nguyễn Nhạc

Quang Trung Hoàng Đế không có nằm trong 7 loại thông minh vừa liệt kể, vậy tại sao ông đã làm nên lịch sử sáng chói trong lịch sử Việt và hậu duệ của ông đã tự hào và hãnh diện đã có bậc tiền bối xuất chúng đã từng lãnh đạo nhân tộc Việt Nam kiên cường. Thật ra Quang Trung Hoàng Đế đã có E.Q. tuyệt vời. E.Q. là Emotional Quotient, tạm dịch là CHỈ SỐ CẢM XÚC (Từ điển Google trên NET, phần tiếng Việt, dịch E.Q = chỉ số thông minh trí tuệ là không chính xác).

Từ điển Webster định nghĩa  danh từ EMOTION như sau: “The effective aspect of consciensness subconscious tạm dịch là = sự xúc động, cảm xúc từ tiềm thức (cũng có người dịch là sự nhận biết có ý thức; khác với danh từ MIND = khả năng nhận rõ sự vật, suy nghĩ và cảm giác hay còn được xem là TÂM TRÍ.

Những cách ứng xử được người viết nêu ra tiêu biểu sau đây chứng tỏ Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ là một người có chỉ số E.Q rất cao:

Cách ứng xử thứ nhất: khi ra Bắc lần thứ nhất vào năm 1786. Khi đó Nguyễn Nhạc giao cho ông dẹp tan quân chúa Trịnh tại Thuận Hóa – Quảng Bình mà thôi, tất cả sách sử đều ghi chép là Nguyễn Hữu Chỉnh khuyến cáo Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc luôn (vì ngoài Bắc hết cả nhân tài). Người viết cho rằng lời khuyến dụ của Nguyễn Hữu Chỉnh phù hợp với suy nghĩ và ước muốn của Nguyễn Huệ, nên ông thi hành ngay. Nếu Nguyễn Huệ không muốn và không dám thì chẳng ai có thể khuyến dụ ông được, nhất là Nguyễn Huệ không mấy tin tưởng vào cá nhân Nguyễn Hữu Chỉnh.

Cách ứng xử thứ hai: khi ra tới Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã đánh tan bọn tướng lãnh của chúa Trịnh như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Bùi Thế Đạt…cũng như đánh tan đám con cháu của chúa Trịnh như Trịnh Bồng, Trịnh Lệ (chúa Trịnh cuối cùng là Trịnh Khải phải tự tử). Trong triều đình không còn ai (quan lại và tướng tá bỏ chạy hết), vua Lê Hiển Tông đã già lại đau yếu nằm trên giường không đi lại được. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cùng các tướng lãnh tùy tùng bước lên sân triều để vào chầu vua, thì bị một ông già ốm yêu mặc áo the đen giơ tay ngăn trở (chứ không mặc phẩm phục của một vị quan trong triều):

– Bẩm tướng quân, phép nước quy định khi vào chầu vua, không ai được mang vũ khí.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trừng mắt hỏi:

– Nhà ngươi là ai?

Ông già ốm yếu đáp:

– Tôi là Phương Đình Pháp, người hầu cận của Đức Vua Lê Hiển Tông.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lẳng lặng tháo bỏ vũ khí để xuống thềm của sân triều đình (đương nhiên các tướng lãnh tùy tùng cũng làm y như  vậy) rồi tất cả vào yết kiến Đức Vua Lê Hiển Tông. Nguyễn Huệ trình bày quân Tây Sơn từ trong Nam ra Bắc Hà để dep bọn kiêu binh cũng như dư đảng của chúa Trịnh dưới khẩu hiệu PHÙ LÊ DIỆT TRỊNH, xong việc lại rút về Nam chớ không có ý gì khác.

Khi Nguyễn Huệ nghe lời nói phải của Phương Đình Pháp để vũ khí ngoài sân, ông đã thu được những điều lợi ích to tát mà chính ông không thể ngờ được, đó là:

2.1. Ông không cần ra thông cáo báo chí hay tuyên ngôn tuyên bố gì cả mà tình hình hình chính trị của Bắc Hà yên ổn trở lại (sách sử ghi rằng, sau đó ít lâu, các quan lại trở lại triều đình làm việc với vua Lê), nghĩa là không phải tốn công đi đánh dẹp các cuộc nổi loạn phản kháng.

2.2 Từ bên trong, tất cả thân nhân của Đức Vua Lê Hiển Tôn hồi hộp xem thái độ của Bắc Bình Vương xử sự ra sao để biết số phận của nhà Lê sẽ như thế nào. Khi chấp nhận “phép nước”, có nghĩa là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ không muốn dùng võ lực của mình để soán ngôi.

2.3 Khi nói chuyện với Đức Vua Lê Hiển Tông, ông còn được Đức Vua gả con gái là Ngọc Hân Công Chúa. Việc gả con gái cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ai cũng hiểu là Đức Vua muốn tìm chỗ dựa cho triều đình nhà Lê nhưng ít ai để ý là chính thái độ anh hùng nhưng khiêm tốn của tướng Nguyễn Huệ đã là làm rung động trái tim của Ngọc Hân Công Chúa. Người viết cho rằng đám cưới diễn ra nhanh chóng phần lớn xuất phát từ sự cảm phục và yêu thương chân thật của cô Công Chúa này chứ không phải vì thái độ “chiếm đoạt” của kẻ thắng trận.

2.4 Khi đem quân Tây Sơn ra Bắc, tướng Nguyễn Huệ không hề biết rằng Đức Vua Lê Hiển Tôn có con gái là Ngọc Hân Công Chúa, và ông cũng chẳng hề có dự định ra Bắc để “được vợ”.

2.5 Ngọc Hân Công Chúa là một người được đào luyện có giáo dục cao cấp. Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế bị bạo bệnh qua đời, Ngọc Hân Công Chúa đã làm thơ văn khóc chồng, đó là bài AI TƯ VẤN nổi tiếng trong Văn Học Sử của Việt Nam.

CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI VIẾT:

Ai Tư Vãn là một bài văn vần viết theo thể lục bát gồm 164 câu nên không tiện trích dẫn trong bài viết này. Như vậy chuyện tình của Ngọc Hân Công Chúa với tướng Nguyễn Huệ đâu có thua gì chuyện tình ROMÉO – JULIET của Anh Quốc? (Vì Juliet đâu có biết tự mình làm thơ văn)

  1. Cách ứng xử thứ ba: Tướng Nguyễn Huệ không đoạt quyền cai trị của vua Lê, mà ông rút về Nam chỉ để lại tướng Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm làm giám quốc. Khổ nỗi, vua Lê Chiêu Thống quá dở, lại bị Trịnh Bồng rồi sau đó Nguyễn Hữu Chỉnh lấn áp khiến phải bỏ chạy sang Tàu cầu viện.

Chính sử gia Trần Trọng Kim nhận xét là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đối xử không lấy gì tệ bạc với nhà Lê (xem VNSL tập II – trang 128) nhưng vận nhà Lê đã hết cho nên Lê Chiêu Thống không làm được việc gì cả.

  1. Cách ứng xử thứ tư: Sau khi đánh bại 200,000 quân nhà Thanh, Quang Trung Hoàng Đế không đóng đô tại Thăng Long mà ông lui về Nghệ An,- để lập triều đình (Quang Trung xây dựng một thành quách mới có tên là PHƯỢNG HOÀNG TRUNG ĐÔ).

Bác sỹ Trần Văn Bảng (giáo sư môn Triệu Chứng Học của Đại Học Y Khoa Saigon) năm 1970 có xuất bản một quyển sách đoán bệnh trạng của các danh nhân Việt Nam trong quá khứ. Trường hợp của Quang Trung Hoàng Đế, bác sỹ Bảng chẩn đoán rằng Quang Trung Hoàng Đế bị viêm ruột thừa và chết nhanh chóng vì chỗ sưng bị vỡ khiến ông bị nhiễm trùng toàn diện. Y khoa năm 1970 có thể chữa kịp nếu sau khi chỗ sưng bị vỡ, phải đem bệnh nhân cấp kỳ nhập viện trong vòng 2- 4 giờ đồng hồ (dĩ nhiên phải có trụ sinh và nước biển).

Image result for Tây Sơn Nguyễn Nhạc

Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định

Khi Quang Trung Hoàng Đế băng hà vào năm 1792, ông mới chỉ 40 tuổi, Quang Toản được tôn lên làm vua mới có 10 tuổi: quyền hành rơi vào tay Bùi Đắc Tuyên (là anh ruột của mẹ Quang Toản), ông này chuyên quyền hống hách nên các đại thần chia phe cánh giết hại lẫn nhau.

Sử gia Trần Trọng Kim viết rằng (trích trong VNSL tập II trang 120): … “Tuy rằng chẳng được bao lâu nhà Nguyễn Tây Sơn sinh ra nội loạn, vua Thế Tổ Cao Hoàng Nhà Nguyễn (Gia Long) lại thu phục được sự nghiệp cũ mà thống nhất cả Nam – Bắc lại làm MỘT. Nhưng việc thành bại hưng vong là mệnh trời…” HẾT TRÍCH

Theo nhận xét của người viết, nhà TÂY SƠN suy vong bởi 4 lẽ như sau:

@ LẼ THỨ NHẤT:  Vua Quang Trung chết quá sớm, các công cuộc cải cách của ông mới chỉ bắt đầu, chưa đâu ra đâu hết cả.

@ LẼ THỨ HAI: Quang Toản còn quá nhỏ, các đại thần kình chống chống nhau, giết hại lẫn nhau, không biết đoàn kết để đương cự với Nguyễn Phúc Ánh.

@ LẼ THỨ BA: các đại thần chỉ có tài khi được “quản trị” bởi Quang Trung. Không một ai có tài “cai trị” và “quản trị” như tướng Lê Hoàn sau khi vua Đinh Tiên Hoàng qua đời (tướng Lê Hoàn về sau lên ngôi vua lấy niên hiệu là Lê Đại Hành).

@ LẼ THỨ TƯ: đây là điểm quan trọng nên người viết đề cập sau cùng. Lãnh thổ mà Quang Trung Hoàng Đế cai trị (từ Bắc Đèo Hải Vân đến tận ải Nam Quan), người dân đã kiệt lực vì chiến tranh liên miên (từ 1778 đến 1802), cho nên người dân không ủng hộ bất cứ tướng lãnh nào của nhà Tây Sơn nữa, chưa chắc họ đã ủng hộ Nguyễn Phúc Ánh như người dân của vùng Gia Định. Dân chúng miền Bắc cần một vị vua đem lại hòa bình – chấm dứt chiến tranh cái đã, đó là ưu tiên số MỘT.

Chứng minh cho lập luận này, người viết cho rằng Napoleon Bonaparte vẫn còn đó, năm 1815 trở lại Paris nắm quyền sau khi đào thoát khỏi đảo Elbe trong Địa Trung Hải, nhưng ở ngôi vị đúng 100 ngày (thời kỳ bách nhật) rồi thua trận Waterloo ở Bỉ, Napoleon bị giam cầm tại đảo Sainte Hélène (phía  Đông châu Phi – nằm giữa Đại Tây Dương), lý do: dân Pháp và binh đội Pháp đã kiệt lực vì chiến tranh liên miên (từ 1789 đến 1815). Binh đội Pháp không có tinh thần chiến đấu quyết liệt như hồi 1789 (phá ngục Bastille nữa): dân chúng Pháp cần CHẤM DỨT CHIẾN TRANH để làm lại cuộc đời sau hơn 26 năm chinh chiến.

Cái mà sử gia Trần Trọng Kim gọi là MỆNH TRỜI thực ra nên hiểu là Ý MUỐN CỦA TOÀN DÂN, và hiện nay người ta vẫn đề cao chủ nghĩa Ý DÂN LÀ Ý TRỜI (chứ không phải Ý DÂN là Ý ĐẢNG như mấy thằng VC vẫn tuyên truyền láo khoét và trâng tráo bỉ ổi).

Viết xong tại San José ngày 26 tháng 10 năm 2019.

Trần Trung Chính

 

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*