Thu Nga: Khóc Nguyễn Mạnh An Dân

Khóc Nguyễn Mạnh An Dân (Tháng 9 2019) khi tôi đang ở Portugal (Bồ Đào Nha), Bắc Âu.

Tiếp theo là bài giới thiệu tác phẩm “Lá Quốc Kỳ và Người Lính Cũ” của Thu Nga trong buổi ra mắt sách của anh tại Dallas.

Dựng Cờ Vàng

 

Nghe tin anh đã mất

Khi trời đang chớm thu

Từ Bắc Âu trở lại

Không gian bỗng tối mù

 

Đâu rồi người lính cũ

Dương cao ngọn cờ Vàng

Một tấm lòng son sắt

Cho quê hương điêu tàn

 

Ngủ yên đi ông bạn

Tên Nguyễn Mạnh An Dân

Chiểu Houston thê thiết

Đưa tiễn anh lên đường

 

Anh những người chiến sĩ

Từng đổ máu sa trường

Vẫn mơ về cố quốc

Với ý chí kiên cường

 

Nhưng nửa đường gãy gánh

Hồn bỗng thoát lìa thân

Khóc anh dăm ba chữ

Nghẹn ngào trong âm thầm

 

Anh linh thiêng phù hộ

Cuộc chiến đấu truân chuyên

Giành tự do dân chủ

Đánh tan lũ bạo quyền

Cờ Vàng ta dựng lại

Trên đất nước mọi miền

 

Thu Nga

Giới thiệu cuốn “Người Lính Cũ và Lá Quốc Kỳ” năm 2017 tại Dallas, Texsas

Thưa quý vị, khi nhận được cuốn sách của anh Nguyễn Mạnh An Dân gởi tặng, lúc chưa đọc, nhưng chỉ cần nhìn tấm hình bìa với tên “Lá quốc Kỳ và Người Lính Cũ” là chúng tôi đã xúc động liền. Nhìn kỹ thêm một chút là thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ yêu quý của dân tộc Việt và hình ngườỉ lính VNCH, hình cây súng dựng, chiếc nón sắt và những tấm thẻ bài! Một kỷ niệm thân thương và một ký ức nghẹn ngào về cuộc chiến của người lính miền Nam, đã xả thân suốt gần một phần tư thế kỷ để ngăn chận sự xâm lăng của giặc Cộng từ phương bắc, chúng tôi rất vinh dự được giới thiệu đến quý vị.

Câu chuyện đầu tiên cũng là tựa đề của cuốn sách, tác giả đã dẫn nhập với lời thơ xé lòng của nhà thơ Nguyễn Tư:

“Mắt rưng rưng lệ cờ vàng

Tiếng hô xé nát ruột gan thân này

“Hạ Kỳ” súng bắt đều tay

Xin chào đất nước, lần này nữa thôi”

Lá cờ mang giòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam, là niềm hãnh diện, là niềm đau nhức nhối trong tâm tư của mỗi người Việt Nam, trong đó có Nguyễn Mạnh An Dân. Tác giả  đã tả lại cảm xúc của mình, người lính cũ miền Nam về Lá Quốc Kỳ –  khi ông đang lật từng trang lịch của một công ty vận chuyển quốc tế UPS. Từng trang lịch với những danh lam thắng cảnh nhưng không có cảnh nào làm tác giả vui. Ông viết “một chút gì đó nhói nhói trog tim, một chút gì đó cay cay trên mắt. Tôi như một người đi lạc, một kẻ đứng ngoài. Chỗ của tôi không phải ở đây và những liên tưởng, những so sánh luôn làm quặn lòng đứa con lưu lạc khi nhớ về vùng đất khổ, dân nghèo nơi quê hương yêu dấu cũ…” Tay ông vẫn tiếp tục lật từng trang lịch, tới một trang thì bỗng mặt ông tái đi, và tim ông đập mạnh. Ông viết “trước mặt tôi là cảnh một quảng trường nhỏ giữa một khúc phố nguy nga, đầy đặc lâu đài của thành phố Chicago, Illinois, ở đó có dựng ba trụ cờ lớn và cái chính giữa, cao nhất, phất phới lá cờ vàng soc đỏ thân yêu”. Khi thấy thái độ của ông, những người bạn cùng sở đã ngạc nhiên tột độ hỏi chuyện gì xảy ra. “Tôi vẫn nhình sững vào lá cờ và nghe giọng mình run run, thều thào như được phát ra từ trong mơ: Lá cờ của tôi! Lá cờ của đất nước tôi!”. Sự xúc động của ông cũng nỗi xúc động của người đọc.

Dĩ nhiên nỗi xúc động của tác giả, của chúng ta không dễ gì làm cho người ngoại quốc hiểu, nhiều người đã lên tiếng hỏi tại sao chúng ta không quên quá khứ để xây dựng lại một tương lai. Tác giả giọng lạc đi “các anh có biết cái gì đây không? Máu, máu đào của triệu triệu quân dân tôi đã đổ ra trong suốt cuộc chiến hơn hai mươi năm vì tự do dân chủ cho đất nước tôi vì cái mà có thời các anh đã gọi là “tiền đồn của thế giới tự do…”

Câu chuyện lá quốc kỳ thiêng liêng đã được các tù binh trại tù Cộng Sản ở Tân HIệp, Suối Máu chào kính lúc 11:40 đêm 24 tháng 10 hai, 1979 với lời hô dõng dạc “xin trân trọng kính mời toàn thể cựu sĩ quan đứng dậy nghiêm chỉnh làm lễ chào quốc kỳ”. Rồi tiếng kèn armonica cùng với những người tù khốn khổ nhưng ý chí quật cường và lòng yêu tổ quốc cao độ, cùng cất cao lời ca “Này công dân ơi! đứng lên đáp lời song núi, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…”

Và lá Quốc Kỳ hiện diện tại Paulo Bidong, tháng Giêng năm 1991 khi cộng đồng tỵ nạn Việt Nam tại đây biểu tình, tuyệt thực đưa những tài liệu chứng minh tính chất độc hại phi nhân của nhà câm quyền Cộng Sản Việt Nam và sáng tỏ chính nghĩa của người tị nạn. Mà người cầm lá đại kỳ trong đêm không ngủ đấu tranh là một thiếu niên 13 tuổi. Tác giả viết em đã đứng suốt đêm dưới trời mưa bão, trên đầu em quấn vành khăn trắng với giòng chữ với chính máu của em “tự do hay là chết”. Tác giả đã ghi lại bài thơ

“Áo “xã hội” phát phủ chân

Vành khăn tang quấn buồn quanh tóc mềm

Lạnh căm bão nổi, trời đêm

Em nhỏ nhoi đứng lẫn chìm trong mưa

Rất người lớn, rất trẻ thơ

Nhón chân cố giữ ngọn cờ gió tung

Bé Việt Nam, bé vô cùng

Đau theo vận nước bỗng thành lớn khôn.”

Trong suốt hơn 250 trang sách tác giả Nguyễn Mạnh An Dân đã ghi lại những cảm tưởng, những câu chuyiện của người lính cũ miền nam, câu chuyện trong ngục tù sắt máu Cộng Sản, câu chuyện trên bước đường đi tìm tự do. Người lính cũ miền Nam với tâm tư đầy ắp những hình ảnh của đồng đội cũ. Ông tâm sự “Tôi đã viết khá nhiều về những người lính, nhưng tôi không có lời nào để nói về người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cả. Tôi muốn như vậy vì tôi biết những người lính đó đã ở trong lòng chúng ta, đang và sẽ mãi mãi như vậy và đó là đièu trân quý nhất, trân quý hơn tất cả mọi lời nói”. Vì họ là những người con yêu đất nước đã hy sinh suốt cả quảng đời trai trẻ cho non song. Họ sa cơ thất thế, bị giam vào ngục tù lao lung, chỉ mong sớm tìm ánh sáng tự do, hình như cả một dân tộc đều muốn ra đi tìm tự do, nhưng tự do phải trả bằng máu, nước mắt vì tình thương của thế giới hình như đã cạn kiệt, họ bị ngập chìm trong biển cả. Tác giả ngậm ngùi cảm thương cho thân phận người Việt lưu vong, trong đó có tác giả

“Có ai như chúng tôi xứng đáng làm người

Có ai như chúng tôi dám đổi tự do bằng mạng sống

Chúng tôi ngẩng cao đầu giữa trời cao đất rộng

Hỏi khắp năm châu sao ngoảnh mặt lạnh lùng?!

Chương tạp ghi thơ nhạc trong tù rất thú vị với những bài thơ của nhiều tác giả khác nhau, Nguyễn Mạnh An Dân đã đưa ra cho mỗi một khoảnh khắc, một gia đoạn rất hay như lúc hạ cờ, hay cho những oan khiên đã xảy ra trên đường vượt biển, vượt biên tìm tự do, hay cho những người chết âm thầm trong ngục tối. Ông không bao giờ quên những người bạn tù vừa nằm xuống, mà hồn bang khuâng nhớ mẹ, nhớ về “một nửa của mình” như một lời tạ tội và tri ân

“Hai người tù khiêng một người

Tấm ny lông rách hở đôi chân gầy

Vệ binh cầm sung quay quay

Quát: Đào cái lỗ, lấp ngay, rồi về”

Tác giả cũng viết về những người lính cũ, những người bạn thân của mình, có người  còn sống như Trần Hoài Thư, người lính miệt mài với những trận chiến khốc liệt và với tình yêu quê hương ngút ngàn, tình đồng đội gắn bó qua những bài văn qua những bài thơ…

Hay ông viết về những người bạn nay đã trở thành thiên cổ như cố đại uý Phạm Đức Thắng. Ông viết về sự ra đi của bạn tuy chiến đấu oai hùng nhưng “ra đi trong tức tuởi, âm thầm. Không có chút lễ nghi, không có chút ân cần nào dành cho người lính nằm xuống vào tối ngày 28 tháng 4 năm 1975, khi mà cả đơn vị và đồng đội của anh đang ngập trong biển lửa, đang cố giữ vững tay súng và cũng đang theo nhau nằm xuống để trả cái giá danh dự cho tổ quốc của những người lính đúng nghĩa”

Còn nhiều nhiều câu chuyện nữa về cuộc chiến tranh bi hung tráng của người lính cũ miền nam. Câu chuyện nào cũng đầy ắp tình quê hương dân tộc, tình huynh đệ chi binh. Những tháng ngày hành quân gian khổ, thấy bạn mình hang hang lớp lớp ngã xuống để bảo vệ non song.

Đọc một đoạn rất cảm động sau khi cuộc chiến đầy máu lửa kết thúc, có một người lính đang mệt mỏi gục đầu vế phía trước, tưởng như ông đang ngồi nghĩ, nhưng không đó là  người thiếu úy trung đội trưởng xung kích, người đã hướng dẫn toán quân đầu xung phong tiến chiếm mục tiêu và đã hy sinh vào phút chót trước loạt đạn định mệnh khi quân địch hoảng loạn tháo chạy bắn ngược lại. Bạn bè anh đã đỡ anh dậy để ghi lại hình ảnh cuối cùng bên nhau như một cách ngậm ngùi chia sẻ niềm vui, nỗi buồn.

Chiến đoàn trưởng nói nhỏ khi mọi người vừa trở lại lều chỉ huy của đại đội

-Còn rượu không cho anh một ca

Tiểu đoàn trưởng thân mật, bộc trực hơn, nói lớn:

-Tao cũng muốn một ca

Bữa rượu chiều Giáng Sinh, vậy đó. Rất buồn!”

Những câu chuyện “rất buồn” nhưng mang đầy tính chất nhân bản, đạo đức của những người lính miền nam lúc nào cũng tâm niệm “tổ quốc, danh dự, trách nhiệm” làm kim chỉ nam, mà tác giả đã ghi lại từ trang đầu “dù nơi xứ người lụa là phủ thân, nào hơn quê ta muôn đời hoa gấm, nam nhi bảy thước tay súng với tay cờ, lời nguyền xưa vang trong tim ta rực lửa”

Và tác giả đã tâm sự: “Tập sách nhỏ này, không chuyên chở điều gì mới mẻ, không trao gởi điều gì to tát, nó chỉ đơn giản như một cách gom lại những đoạn rời về những nỗi đau chung, để cùng buồn, vui cùng kiêu hãnh và ngậm ngùi”

Hãy chia xẻ những tâm sự nay với tác giả, với nguời lính cũ Nguyễn Mạnh An Dân và lá quốc Kỳ của tổ quốc, của dân tộc Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu và cảm ơn đã lắng nghe

Thu Nga

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*