Tháng Tư nhớ Saigòn

Qúy Huynh Đệ và bạn hữu thân mến,

THÁNG TƯ NHỚ SÀI GÒN

 
HQ Nguyễn Đức Thu 
Tháng tư và Sài Gòn chắc hẳn vẫn là nỗi buồn và nỗi nhớ không bao giờ chúng ta có thể quên. Lại  thêm một lần tháng tư, tháng tư lần thứ 46.  Ngồi đoc lại bài viết năm vừa qua ” Sài Gòn 45 năm nhìn lại”, vô cùng nhớ Sài Gòn, nên tôi vội ghi thêm vài ký ức cho bài viết cũ. Cũng tìm thêm được vài hình ảnh xa xưa trước năm 1975 nên thân gởi đến Huynh Đệ để chúng ta cùng đọc, để cùng nhớ Sài Gòn và tạm quên đi thời gian buồn bã trong lúc phải  ‘bất đắc dĩ tu thân tại gia’ qúa lâu. Hy vọng một ngày rất gần sẽ chào vĩnh biệt, sẽ giã từ vĩnh viễn mấy nường ‘Cô Vi Cô Na’ mắc dịch’ đã làm cho đời ta mất vui!
   
Hình tượng Hưng Đạo Đại Vương trên Công trường Mê Linh. Phía trái là Bộ Tư lệnh Hải quân trông ra sông Sài Gòn. Bên cạnh là dinh số 5, kế tiếp là 4A Bến Bạch Đằng dành cho Đại diện các Quân Binh chủng thuộc Bộ TTM (cũng là nơi mà vợ chồng người viết được phép cư ngụ cho đến ngày di tản. N hìn lại hình ảnh thấy vô cùng thương nhớ!)
46 năm trôi qua, đôi lúc nghĩ lại chúng ta cũng không thể tưởng tượng nổi, cũng không thể hiểu nổi tại vì ai, tại vì sao Miền Nam và Sài Gòn của chúng ta lại đã phải trải qua, đã phải gánh chịu một cuộc chiến tang thương, một sự vỡ nát, một kế hoạch bỏ rơi của đồng minh, những cuộc rút quân thật phi lý, một cuộc lưu đày kinh hoàng và những năm tháng tù ngục đau thương nhất của quân dân Miền Nam trong lịch sử cận đại thế giới!
Thưa qúy Huynh Đệ và bạn hữu, từ vùng bình yên khá xa phố phường đô thị, cứ khi chiều về, tôi thường lấy sông nước làm niềm vui cho qua tuổi già, cố quên chuyện thế sự thăng trầm, nhưng rồi mỗi khi tháng tư đến thì lại nhớ Sài Gòn da diết. Sài gòn không phải là nơi sinh trưởng, nhưng hình như tôi bị ràng buộc tự hồi nào, đã đến đó rồi đi không biết bao nhiêu lần. Đôi lúc tôi cũng đã khó chịu vì những diêm dúa, những a dua, những nồng nặc khói xe và sự tự do qúa trớn của thành phố này, nhưng chưa bao giờ biết ruồng bỏ nó.
Đây là thành phố của chính trị, của quyền lực, của tình yêu, của bạn bè, của chia ly, của đoàn tụ, của một số tầng lớp hầu như không thèm biết đến chiến tranh hoặc muốn sống ở đó để quên đi chiến tranh, một thành phố được thế giới biết đến chỉ sau Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Người ta có thể sống thú vị ở Sài Gòn nếu là một trong hai hạng người, thật nhiều tiền hoặc thật xác xơ. Chỉ cần một ngày được sống trên đó là đủ thấy mãn nguyện, xa đi là ngẫn ngơ luyến tiếc. Chỉ cần một chút tiền nhỏ trong túi là ta có thể tà tà thả dong trên vùng ánh sáng lung linh, đẹp kiêu sa, đẹp ma quái của trung tâm thủ đô, có thể ngồi dài dài tại Pôle Nord hoặc Brodard ngắm nhìn thiên hạ qua lại với đầy đủ những phô diễn hoặc nghe thấy được mọi chuyện, mọi tin tức sốt dẽo khắp nơi trên thế giới.
Tôi thích lối diễn tả về Sài Gòn của Người Sài Gòn xưa “… Người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ Tây phương này, Sài Gòn như một người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các. Nhưng ở một góc nào đó, Sài Gòn lại có cái ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng và những con kinh nước đen…
‘Người Sài Gòn xưa ‘ còn yêu Sài Gòn rất lãng mạn như sau: “Em Sài Gòn trước 1975 vẫn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang đợi chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống. Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm tuy dần dần đổi khác, nhưng  Sài Gòn vẫn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, thấy em Sài Gòn vẫn hiện ra với một đôi môi còn đỏ mọng”. Diễn tả Sài Gòn kiểu nầy nghe thật là nhức nhối con tim. 
Trước dịp Lễ Quốc khánh 26 tháng 10 năm 1961, chúng tôi khóa 16 và 17 Trường Võ Bị Quốc gia VN-Đà Lạt theo nhịp quân hành cũng đã mòn gót giày tập dượt và diễn hành qua những đường phố của thủ đô này. Chúng tôi được chào đón, được dân Thủ đô vổ tay nồng nhiệt, được thân ái khen tặng là những Sinh Viên Sĩ Quan trong quân phục và có những bước chân theo nhạc quân hành đẹp nhất. Tôi đã hãnh diện, đã ưỡn ngực, ngẫng đầu cao dù là ‘giữa đoàn hùng binh tôi chỉ là kẻ luôn đi hàng sau cùng’ (sau lễ, đoàn ‘hùng binh SVSQ’ này đã đoạt giải nhất diễn hành của Quân lực VNCH ).
Nhiều  lúc tôi ước mong có một ngày đó được tung tăng tự do, được chiêm ngưỡng những kỳ tích văn hóa nghệ thuật và di tích lịch sử Sài Gòn như Tòa Đô chánh, biểu tượng của Thủ đô, hay lãng mạn hơn, làm một sĩ quan hải quân, đứng trên đài cao chiến hạm trở về bến Bạch Đằng sau những tháng ngày hải hồ sóng gió để được người yêu chào mừng “với lòng nàng anh là hoàng tử “.
Không ngờ những mong ước đó sau này đều đã thành hiện thực. Còn hơn thế nữa, tôi cũng rất vinh hạnh được quân dân Quận Nhứt Đô thành Sài Gòn dang rộng vòng tay thân ái đón chào, đã chọn bầu tôi  vào Hội đồng Đô thành trước ngày Quân lực 1974 như là một bước khởi đầu của kỳ vọng. Nhưng thật đau lòng thay, thời gian cho chúng tôi qúa ngắn. Trong tháng Tư đen 1975, tôi đã đành bất lực chứng kiến Sài Gòn thân yêu của mình rã tan từng mảnh hàng ngày hàng ngày từ ban công (balcony) của tòa nhà lịch sử này !
Ngày 30 tháng tư năm 1975, Sài Gòn bỗng dưng bị đổi tên, cái tên kiêu sa, cái tên Sài gòn hòn ngọc Viễn Đông đẹp như trân châu, cái tên lịch sử từng hằn trong mỗi con tim người Miền Nam, đã bị chính quyền mới tìm mọi cách đưa vào qúa khứ. Rồi mỗi khi kỷ niệm trở về, mọi người thấy thật buồn rầu và nuối tiếc. Tôi cũng vậy, tuổi già không hẹn mà cứ đến và thời gian cứ vùn vụt qua nhanh không đợi chờ. Bây giờ tôi có thể làm được gì hơn là thỉnh thoảng ngồi một mình, xem lại dĩ vãng, để nhớ để thương Sài Gòn của một thời thân ái xa xưa.
Tòa Đô chánh và Hội đồng Đô thành nhìn thẳng ra đường Nguyễn Huệ thời VNCH.
Thương xá Tax nơi có nhà hàng Pôle Nord ngày xưa
Đường Nguyễn Huệ nhìn từ Tòa Đô chánh trông ra sông Sài Gòn
Thật vậy, nào có ai ngờ, ngày 30 tháng tư năm 1975, Sài Gòn bị bức tử, bị đổi tên mà trong vài tuần trước đó, hàng ngày, từ văn phòng lầu 2 trên Tòa Đô chánh nhìn thẳng ra Trung tâm Sài Gòn, tôi bất đắc dĩ đã trở thành một nhân chứng, đã phải chứng kiến Thủ đô thân yêu của mình không còn bình yên dù dân Sài Gòn thì vẫn cứ tỉnh bơ, hầu như phó mặc cho số phận. Tuy nhiên ký giả Jean Larteguy thì ghi nhận rằng: “… người dân Nam rất sợ những người hỏa tinh Bắc Việt, sợ những ‘đoàn quân nhỏ bé màu xanh’ mà họ coi như thuộc về một thế giới khác, khắc khổ, cứng rắn, cũng biết tươi cười nhưng thiển cận, một chủng tộc mới. Hơn nữa, người Miền Nam vẫn luôn luôn thích đời sống dễ dàng và không muốn “bị tống vào các tu viện để trở thành các tu sĩ và các dì phước đỏ “.  Jean Larteguy cũng có trái tim rất Sài Gòn, nhưng ông cũng đành phải bỏ thành phố này sáng ngày 28 tháng tư khi nghe tin có những đại quân mà ông gọi là ‘đoàn quân từ hỏa tinh miền Bắc’ đang bao vây Thủ đô!
Tưởng cũng nên hồi tưởng lại tại sao Miền Nam của chúng ta đã phải tan nát dễ dàng như vậy? Phải thành thật mà nói, cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 giết Tổng thống Ngô Đình Diệm thật là một thảm họa, đã kéo theo trên 10 cuộc đảo chánh khác, đã đưa tới sự phân hóa trong QLVNCH.  Hai năm sau, người Mỹ hình như không còn nhẫn nại để tin tưởng vào khả năng của các vị lãnh đạo Miền Nam. Tháng 8 năm 1965, khi thấy tướng Nguyễn Cao Kỳ có khả năng Anh ngữ trôi chảy vì ông được huấn luyện ở Hoa Kỳ, hơn nữa ông là một phi công khá can đảm, thích đại chúng, nên đã ủng hộ ông lên nắm quyền Thủ tướng (Chủ tịch Ủy ban Hành pháp trung ương) dù họ thừa biết rằng ông chẳng có kinh nghiệm gì về chính trường. Hai năm sau, lại còn ủng hộ ông làm phó cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu 1967-1971 dù họ cũng biết rất rõ hai vị này chẳng ưa gì nhau. Kiểu chính trị của Hoa Thịnh Đốn đối với các nước chậm phát triển là như thế, thật là đơn giãn như thế !!!
Sài Gòn tự nhiên trở thành một Thủ đô buông xuôi, các quán Bar mở đầy đường để Việt cộng lợi dụng tha hồ xâm nhập. Rồi sau cuộc tổng tấn công đẩm máu của Bắc quân Tết Mậu thân 1968 , cũng theo ký giả Larteguy “hình ảnh Sài Gòn bắt đầu trông thật là thê lương, từng đàn trẻ em đi lang thang, từng đàn  người què cụt đi hành khất không nhà cửa và phạm pháp đủ loại. Dân số Sài Gòn lên tới trên bốn triệu trong khi Thủ đô chỉ được dự trù để chứa chừng một triệu người. Saigon đã qua một thời kỳ say sưa khi người Mỹ ồ ạt đổ bộ 543,000 quân, chưa kể số quân nhân Hải quân của Đệ thất Hạm đội , những nhân viên dân sự, những người dân sự mặc đồng phục, tất cả lên tới 600,000 người. Những người lính Mỹ đầu tiên đã được choàng vòng hoa trên bãi biển. Bây giờ, không còn chuyện ấy nữa”.
Rồi khi Nixon lên ngôi năm 1969, những trò chơi áp lực, đi đêm với Trung cộng của Nixon-Kissinger đã khiến cho các cấp chỉ huy quân lực VNCH càng ngày càng mất niềm tin vào Mỹ và cấp lãnh đạo . Tháng 2 năm 1971, thủy triều bắt đầu xuống. Chỉ còn 335,000 quân nhân Mỹ. Đến tháng 5 thì chỉ còn 284,000 người. Quốc hội Mỹ tìm cách bỏ rơi Miền Nam Việt Nam.
Thay vì cùng hợp nhau cứu Nước, thì các nhà lãnh đạo và một số các chính trị gia Miền Nam lại càng thêm phân hóa, t ừ đó Kissinger không thấy những con bài đảo chánh, thay quyền đổi ngôi này còn một chút giá trị nào nữa tại Việt Nam so với ván bài mới tại Trung cộng. Miền Nam bắt đầu bằng một sự chấm dứt rỉ máu vì bị cắt đứt viện trợ và quân dụng.
Trở lại một tháng trước đó, tại Hội Đồng Đô thành Sài Gòn, với tư cách cách Chủ tịch Liên Ủy ban, tôi rất ưu tư về tương lai của Thủ đô sau những cuộc triệt thoái đẩm máu kinh hoàng từ Cao nguyên và từ vùng hỏa tuyến. Hàng vạn quân dân đã chết, hàng trăm ngàn quân dân tìm đủ mọi cách để trốn thoát Miền Trung đang dưới tay tử thần. Một số may mắn thoát được, một số được các chiến hạm Hải quân VNCH cứu thoát, cập bến Vũng Tàu đầu tháng tư và hầu hết mong muốn được tái định cư ở Thủ đô. Chúng tôi đã chuẩn bị đón tiếp họ nhưng thật đau lòng khi cảm thấy Thủ đô cũng sẽ phải đối diện với những ngày tang thương có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Hình Dương vận hạm HQ-504 , Hạm trưởng là HQ Trung tá Nguyễn Như Phú K16 Trường VBQGVN, đã hải vận trên 7,000 quân dân trong số 20,000 người thoát khỏi Đà Nẵng và Huế, đến Vũng Tàu ngày 03/04/1975.

Đài BBC Luân Đôn, ngay tối 29 tháng 3 năm 1975 đã loan báo Đà Nẵng thất thủ với 100 ngàn quân ??? bị bắt làm tù binh. Dù tin đúng hay sai cũng đủ tạo nên những đợt sóng thần cuồn cuộn tràn đến. Mọi người tìm cách tháo chạy.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 29, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn I và Đại tá Trí, TL phó TQLC không còn một lựa chọn nào khác hơn là cùng quân sĩ khoác áo phao bơi ra chiến hạm HQ 401 đậu ngoài khơi. Nhiều người đã bị chết chìm!

Tại Saigon, Chủ Nhật 30 tháng Ba: Một phát ngôn viên của Chính Phủ  cho biết là ngày hôm nay, các liên lạc vô tuyến giữa Saigon và Đà Nẵng đã bị gián đoạn. và đây là dấu hiệu cho thấy Đà Nẵng đã thất thủ’ (Malcolm Brown, The NewYork Times, March 30.1975)
Ký giả Brown cho biết thêm: ‘Một nguồn tin đáng tin cậy ở cấp cao hơn cho biết vẫn còn có liên lạc vô tuyến giữa Trung ương vả những quan sát viên VN từ một chiến hạm ngoài khơi Đà Nẵng; tuy nhiên đây rõ rệt là Chính Phủ Saigon đã mất Đà Nẵng’.
Sau khi Đà Nẵng thất thủ, bi kịch của hàng triệu người miền Nam Việt Nam thật sự bắt đầu.
Đầu tuần tháng tư 75,  cựu Dân biểu Đệ nhất Cộng hòa Trần Công Quốc đến thăm tôi tại Tòa Đô chánh. Tôi thật ngạc nhiên vì đã rất lâu kể từ khi cùng theo học tại trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, ông ra trường rồi đi biền biệt cho đến khi  ông đắc cử Dân biểu Quốc Hội, chúng tôi vẫn không có cơ hội gặp lại. Sau và phút tay bắt mặt mừng, ông cho tôi biết tình trạng sống còn của Sài Gòn có thể đếm từng ngày, quân cộng sản đã về tràn đầy xung quanh Bình Dương và Xuân Lộc, khuyên tôi hãy rất cẩn thận. Sau bữa cơm trưa vội vã, ông lại biến mất cho đến một ngày … tôi nghe tin ông và các con đã bị chết chìm trên biển, thật là thương tâm!
 Ngày 9/4/1975 , tại mặt trận cuối cùng Xuân Lộc, mức độ tấn công của quân Bắc quân đã thực sự trở nên ác liệt, tức thời điểm trước khi Sài Gòn thất thủ đúng 3 tuần lễ. Để uy hiếp và trấn áp tinh thần của sư đoàn 18 bộ binh VNCH, quân Bắc Việt đã dùng loại pháo 130 ly liên tục pháo kích vào những cứ điểm đóng quân của sư đoàn này và hầu hết những địa điểm trong ngoài thành phố Xuân Lộc.
Sau khi chịu đựng những đợt pháo kích liên tục của Bắc quân , lực lượng phòng thủ sư đoàn 18 VNCH do  Chuẩn tướng Lê Minh Đảo  làm tư lệnh với tương quan lực lượng kém hẳn địch thủ là 1 đối 3, bắt đầu tổ chức những đợt phản công đánh trả lại một cách hữu hiệu. Và thật đáng kinh ngạc, những chiến sĩ sư đoàn 18 đẩy lui không biết bao nhiêu đợt tấn công xâm nhập vào Xuân Lộc của địch dưới quyền chỉ huy của 2 tướng Hoàng Cầm và tướng Hoàng Thế Thiện.
Chuẩn tướng VNCH Lê Minh Đảo sau đó được thăng cấp Thiếu tướng tại mặt trận.
Tại thành phố Sài Gòn, không khí thật náo nức và nhộn nhịp trong nỗi hân hoan chào mừng chiến thắng Xuân Lộc, một sự chiến thắng không ngờ. Với thắng lợi này, đa số dân chúng thủ đô đều nghĩ rằng quân Bắc Việt sẽ mỏi mệt và cần một thời gian khá dài để dưỡng sức, nhất là nếu có tướng Lê Minh Đảo thì Sài Gòn sẽ bình yên . Cho đến này 13/4/1975 thì sinh hoạt tại Xuân Lộc đã tương đối trở lại bình thường với đường phố tấp nập xe cộ, người qua lại đông đúc. Cảnh mua bán rộn rịp, tưng bừng hẳn lên. Nhưng  hầu như người ta không hề biết rằng cách đó  mấy chục cây số, quân Bắc Việt vẫn đóng chốt và chuẩn bị cho những cuộc tấn công kinh hoàng khác chỉ trong vài ngày sau đó.
Thật vậy, sau cuộc tái tấn công của Bắc quân lần này, và sau những ngày cầm cự đẩm máu, da thịt và sức lực con người hầu như không chịu đựng  nổi trước chiến thuật biển người và các trận mưa pháo biển lửa, áp đảo bởi các sư đòan địch đến tăng cường, Sư đoàn 18 VNCH  đành phải triệt thoái khỏi thành phố Xuân Lộc vào ngày 20/4/1975 để cố rút về bảo vệ Thủ Đô. Nhưng tất cả đều qúa muộn, Sài gòn đang đi vào những ngày cuối!
Tại Dinh Độc lập, ngày 21 tháng tư, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, và trao quyền lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương.  
Ngày 23 tháng tư, Chuẩn tướng Đô trưởng Đỗ Kiến Nhiễu bàn giao chức Đô trưởng cho Đại tá Quách Huỳnh Hà tại phòng khánh tiết Tòa Đô chánh.
 (Giữa một Sài Gòn đang dậy sóng, vẫn còn một chốn yên bình, đầy nét châu Âu cổ điển hiếm có. Tòa Đô chánh và Hội đồng Đô thành Sài Gòn giống như một lâu đài, tuy chỉ có hai tầng nhưng dáng dấp thật hùng vĩ, phong cách trang nhã. Nhìn lại, thật tiếc thay!)
Ngày 24 tháng tư, tôi  thấy Sài Gòn vẫn sinh hoạt như bình thường, cũng vẫn có những làn sóng xe gắn máy chạy ngang dọc không màng đèn xanh đèn đỏ, những chiếc xe Peugoet cũ hôi xăng  bấm còi inh oỉ chen lấn với  những xe jeep bóng loáng và xe quân vận chở những thùng vật liệu chẳng có gì liên quan đến chiến tranh,. Những cảnh sát thì tỉnh bơ để mặc cho xe cộ , khách bộ hành mạnh ai nấy đi. Các nhà hàng  và quán rượu trên đường Tự do vẫn mở cửa. Đó là hình ảnh rất ‘hòa bình’ của Thủ đô đúng một tuần trước ngày mất nước.
Trong lúc đó, tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ,  ông Đại sứ Graham Martin vẫn tin tưởng rằng cho dù Bắc Việt với thế lực đại quân số có tấn công trực tiếp vào Sài Gòn đi nữa thì miền Nam cũng chưa đến nỗi mất hết hy vọng. Ông vẫn vận động những cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề, và cho đến phút cuối , vẫn chống lại những mệnh lệnh triệt thoái toàn diện từ Hoa Thịnh Đốn, dù ông thừa biết rằng tại cơ quan DAO Tân Sơn Nhất, những chiếc xe bus đã chạy lui tới liên tục, nhất là ban đêm để di tản hàng ngàn nhân viên và gia đình có liên quan đến người Mỹ lên những vận tải cơ khổng lồ  bay thoát ra khỏi Sài Gòn mà không cần bất cứ sự khai báo nào với quan thuế hoặc cảnh sát!
 
Sáng ngày 26 tháng tư, tôi ngồi uống cà phê tại một ‘bàn vỉa hè ‘ của khách sạn Continental Palace để cố tìm gặp một số ký giả quen, trong đó có vài ký giả ngoại quốc. Những ký giả Mỹ quen thuộc thì không thấy, duy chỉ có những ông người Pháp, một số biết nói tiếng’Ăng-Lê’ thì ngồi đầy kín. Họ cho biết rằng Tổng thống Pháp Giscard D’Estaing đã thảo luận với Đại sứ Pháp và Ngoại trưởng Jean Souvagnargues là một giải pháp chính trị vẫn còn là hy vọng có thể. Ngay trưa hôm đó đề nghị  ngưng bắn của TT Trần Văn Hương được cái gọi là ‘Mặt trận GP miền Nam’ xác nhận với điều kiện, đại khái là:
-Sài Gòn lập một chính phủ mới không có ‘tay chân ‘ của Thiệu
-Chính phủ mới phải chủ trương một chính phủ hòa hợp quốc gia
-Tất cả quân nhân và dân sự Mỹ phải ra khỏi VN ngay lập tức
-Phải trả hết tất cả tù nhân chính trị
Trong chiều hôm đó, ông Kỳ lại nhảy ngay vào cuộc, tuyên bố hoàn toàn ủng hộ cựu tướng Minh làm thủ tướng để lập chính phủ mới.  Đệ nhất phó thủ tướng là tướng Trần Văn Đôn kiêm tổng trưởng quốc phòng và sẽ cương quyết thi hành luật pháp tối đa cho những kẻ nào dám bỏ nước ra đi!
Trong lúc đó, cựu tướng Minh hứa sẽ thương lượng, kể cả với quân Bắc Việt đang bao quanh Sài Gòn. Nhưng không lẽ ông không hiểu rằng chúng sẽ được lợi gì khi phải thương lượng với ông và liệu chúng sẽ tin vào sự bảo đảm của chính phủ Pháp chăng, những người mà chúng đã từng không đội trời chung, đã từng tốn bao xương máu vì mối thù mà chúng gọi là’ ‘một trăm năm đô hộ giặc Tây’. Thật sự là chúng đang chuẩn bị một cuộc đại xung phong lần chót.

Nhưng tại sao Tổng thống Trần Văn Hương lại không nghĩ đến vị Tướng anh hùng Lê Minh Đảo mà là phải ông tướng Minh chỉ biết ngồi chờ thời?  Không phải Tướng Đảo đang liều chết để thực sự  bảo vệ Thủ đô Sài Gòn đó sao? một vị Tướng mà chỉ trong mặt trận mở đầu tại Xuân Lộc, đã hiên ngang đứng trên đầu gió chỉ huy sư đoàn 18. Ông đã làm cho 3 sư đoàn quân thù khiếp sợ, đã làm cho tướng Bắc quân Hoàng Cầm bị thay thế vì thua trận và tên tuổi của ông chỉ trong một sớm một chiều đã vang danh khắp nơi đến mãi tận Hoa Thịnh Đốn.
Từ trước 1975 và ngay cả sau này tại VN, đã có những dư luận “tại sao Tổng thống Trần Văn Hương trong tình thế tuyệt vọng này đã không phong cho ông tướng này lên Trung tướng, ngay cả Đại tướng trong chức vụ Tổng tham mưu trưởng QLVNCH để lấy lại tinh thần quân dân Miền Nam, thống lãnh ba quân mà trong đó hạm đội HQ/VNCH hầu như còn nguyên vẹn, các sư đoàn Không quân vẫn còn những phản lực cơ hùng hậu với các phi công đầy kinh nghiệm xông pha chiến trận.
Nếu giữ Sài gòn không được, ta dùng hạm đội, hải vận đại quân còn lại ra Phú quốc. Có Hải quân và Không quân yểm trợ “chúng ta sẽ tuyên bố hải đảo rộng lớn này là một Quốc gia VNCH mới như thời quân dân Đài Loan lập quốc. Với vị trí thuận lợi bao quanh bởi đại dương xa đất liền, rất khó cho quân địch tấn công và khi  quân dân còn lại cùng một lòng bảo vệ thì chắc chắn chúng ta sẽ tạo nên được tiếng vang trên thế giới. Biết đâu rồi  có một ngày chúng ta sẽ còn cơ hội lấy lại Miền Nam yêu dấu của chúng ta “.
Nhưng thật tiếc thay cụ Hương đã qúa già để nghỉ ra ý kiến này hay nếu có thì có lẽ ông cũng không dám quyết định khi vẫn còn ông Minh và tướng Đôn đang được Đại sứ Pháp tại Sài Gòn chống lưng!
Cho đến lúc này, tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ,  Đại sứ Graham Martin vẫn tin tưởng ngồi chờ đợi kết qủa của những cuộc thương thuyết.  Nhưng ông có ngờ đâu, tình thế đã quá muộn màng vì quân Bắc Việt sau khi gỡ được nút chận Xuân Lộc, các mũi dùi Nam tiến của Bắc quân đang tiến quân ào ạt về Sài Gòn.
Đã có rất nhiều lần Sài Gòn được cứu nguy bằng những phép lạ nhưng có lẽ lần này, người ta  không còn nhìn thấy cách nào để có phép lạ nữa vì 4 sư đòan VNCH, các lữ đoàn dù, TQLC, Biệt Động quân, 81 Biệt Cách dù… đang cố gắng bảo vệ Thủ đô cũng đang từ từ rã từng mảnh từng mảnh vì thiếu đạn dược và quân vận.
Cùng ngày, Tổng Thống Trần Văn Hương sau khi nắm chức TT chỉ trong 7 ngày đã trao quyền lãnh đạo cho cựu tướng Dương Văn Minh  để tìm cách điều đình với lực lượng ‘Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam’ đang trên đường đến Sài Gòn. Ông được xem là vị Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa. Ngày tàn của Thủ đô  đang đến.
Trưa ngày 29/4/1975, người ta có thể nhìn thấy từ xa những cảnh di tản hỗn loạn, ồn ào trên các đường phố Sài Gòn. Trên bầu trời vang dội những âm thanh rộn ràng của các loại trực thăng AH-1G Cobra  bay khắp nơi trong thành phố. Người ta có thể trông thấy quang cảnh chính diện trên sân thượng của Trung Tâm Văn Hóa Pháp có nhiều người VN cả nam lẫn nữ đang đứng xếp hàng nối đuôi nhau như một đàn kiến và từng người một leo lên chiếc thang của những chiếc trực thăng Hoa Kỳ bay đến rồi đáp xuống tại đây.
Hàng trăm ngàn người đổ xô xuống Bến Bạch Đằng như nước lũ , như sóng triều, tìm  đưòng di tản. Nhưng không phải mọi người đều được may mắn, chỉ là một số, một số rất ít, rất ít đã thoát ra được  một nhà tù khổng lồ đang từ từ ụp xuống. Và Sài gòn sắp đổi tên!
Tại bến Bạch Đằng, Phó đô đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân quyết định Hạm đội Hải quân sẽ chính thức ra đi vào lúc 6 giờ chiều ngày 29 tháng 4 và cuộc di tản dự trù sẽ hoàn tất vào lúc 22 giờ đêm. Điểm hẹn là đảo Côn Sơn.
Vào lúc 10 giờ 24 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975,  Dương Văn Minh đã đọc nhật lệnh trên Đài Phát Thanh Sài Gòn ra lệnh cho tất cả mọi Quân Nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải buông súng đầu hàng. Các sư đòan đang cố gắng bảo vệ vòng đai Thủ đô cũng đành phải giã từ vũ khí. Tư Lệnh sư đoàn 5 là tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự kết liễu vận mạng bằng cái chết thật hiên ngang.
Tại Củ Chi cách Sài Gòn khoảng 30km về hướng Tây Bắc, sư đoàn 25 của VNCH cũng phải buông súng. Tư Lệnh sư đoàn là tướng Lý Tòng Bá bị bắt làm tù binh.
Tại căn cứ Tân An Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở hướng Tây Nam Sài Gòn do sư đoàn 22 VNCH trấn thủ cũng không còn sự lựa chọn nào khác.
Trong lúc đó, sau cuộc tấn công lần thứ hai của trên 3 Quân đoàn Bắc quân do Đại tướng Bắc Việt Trần Văn Trà chỉ huy, (thay thế tướng Hoàng Cầm bị thất bại trong đợt tấn công lần thứ nhất tại Xuân Lộc), lực lượng còn lại của sư đoàn 18 phải rút lui về để bảo vệ Thủ đô. Thiếu tướng Lê Minh Đảo tiếp tục chỉ huy sư đòan 18 (-) tại phía Đông Sài Gòn, cố cầm cự cho đến giờ phút chót nhưng một lần nữa đã bị tấn công bởi toàn bộ quân đoàn 2 Bắc Việt. Danh tướng Lê Minh Đảo dù ‘chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn trường’, đành buông tay. Thế là xong, Sài Gòn yêu dấu của quân dân Miền Nam thất thủ ngày 30!
Nguyên do thật sự từ đâu, do ai bởi ai hầu như chúng ta đều qúa biết. Không phải chỉ là 46 năm buồn hận, nhưng thật tiếc thay, nói như ký giả chiến trường kỳ cựu Phạm Huấn: “Nếu Hiệp Định Paris 27/1/1973 được ký kết trễ hơn khoảng 2 năm nữa, miền Nam không bao giờ mất vào tay cộng sản. Bởi vì, đất nước và quân đội sẽ được lãnh đạo và chỉ huy bởi những người thực sự yêu nước và bởi những tướng tá trẻ, anh hùng, can đảm có khả năng cả về quân sự lẫn văn hóa, với đầy đủ Trí, Đức, Dũng…”
Nguyễn Đức Thu K16
(Trường Võ Bị Quốc Gia VN)

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*