Tạp ghi: Một chuyến New Orleans, LA

Kim Dinh: Năm 2005, tôi đến New Orleans vừa thoát qua một trận bão lịch sử Katrina cùng các anh em trong Hiệp Hội Truyền Thông Báo Chí Dallas. Dấu vết tang thương còn rải rác khắp nơi từ nhà thờ, chùa và Thánh Thất ở nơi đây. Những chiếc xe không nằm dưới đất mà vất vưỡng trên hàng rào hoặc trên mái nhà. Nhiều gia đình chưa kịp trở về, đường phố đìu hiu, buồn tẻ…

Bốn năm sau, New Orleans đã hồi sinh, tôi trở lại tham dự Đại Hội Liên Hội Thủ Đức năm 2009, một phần chính Hội Cựu SVSQ/TB Thủ Đức với sự nỗ lực của hơn 30 SVSQ gầy dựng niềm tin phục hồi tinh thần Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm nhận nhiệm vụ tổ chức Đại Hội của nhiều hội Cựu SVSQ/TB Thủ Đức khắp nơi về tham dự..

Mười năm sau, tôi lại trở về đây cùng chung vui với sự trưởng thành theo thời gian là ngày kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Cựu SVSQ/TB Thủ Đức và cũng để trả nợ ân tình cùng lời hứa với anh chị Huỳnh Công Ánh. Trong mắt tôi, New Orleans đã thay đổi nhiều! Thành phố nghèo nhưng thân thiện và đặc biệt sự tiếp đón quá nồng hậu, ân cần của của anh chị. Trong suốt ba ngày ngắn ngủi, tôi quên hết những công việc thường lệ. Những người bạn đã biết nhưng chưa quen, những người tôi chưa bao giờ quen sống chung một nhà đã trở nên gần gũi như một gia đình. Những AE đối với tôi đã trở nên quen thuộc như  Tiến sĩ Mai Thanh Truyết,  Niên trưởng Huỳnh Cao Lộc,  Ca nhạc sĩ Hoàng Tường, Nghệ sĩ Thu Sương…

Dọc trên đường từ phi trường trở về nhà còn mùa đông nhưng cây cỏ xanh tươi hoàn toàn khác hẳn với Dallas. Nhất là khi về đến nhà anh Huỳnh Công Ánh quanh nhà là màu xanh của nhiều loại cây ăn trái như chuối, bưởi, đào, quất…Tôi thích ngồi trước hòn non bộ nhìn cá lửng lờ trong tiếng nước róc rách từ trên chảy xuống!

Chiều xuống lúc nào không hay, nhiều người bạn lần lượt đến theo lời mời của chủ nhà. Chị Ánh lo phần nấu ăn và anh Ánh tiếp khách. Trong dịp này tôi làm quen với nhiều người bạn mới. Ba người mà tôi nhớ nhiều nhất là nhà thơ Quan Dương, nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị và ca sĩ Bùi Tuyền… Mỗi người đều có một cá tính rất đặc biệt! Và ban họp ca “chuyển lửa về Lộc Hưng” thành hình và tập dượt ngay trong đêm hôm đó để chuẩn bị cho ngày trình diễn hôm sau.

Sáng hôm sau, con Chúa không thể quên nhà thờ… Năm người chúng tôi gồm có anh chị Huỳnh Công Ánh, ca sĩ Hoàng Tường và vợ chồng chúng tôi tham dự Thánh Lễ tại nhà thờ Giáo xứ Nữ Vương Việt Nam. Rời nhà thờ chúng tôi cùng đến Chùa Bồ Đề để dự lễ Thượng Kỳ đầu năm và tham dự Hội chợ tại đây. Trên đường đi, chúng tôi ghé Đền Thờ Quốc Tổ Hùng Vương. Theo lời anh Huỳnh Công Ánh cho biết Đền Quốc Tổ do sự vận động của cô Trần Ngọc Châu, nguyên Chủ tịch Cộng Đồng Louisiana và hiện tại do Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Louisina có trách nhiệm gìn giữ. Mặc dù cố gắng đến sớm kịp tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu năm tại Chùa Bồ Đề nhưng vừa đến nơi thì nghi thức chào cờ đã hoàn tất cũng vừa lúc Đoàn Lân và tiếng pháo nổ bắt đầu chào mừng quan khách, Phật tử và Phật tử. Một sự kiện làm cho tôi rất ngạc nhiên có sự hiện diện của một vị linh mục trong buổi lễ thượng kỳ tại một ngôi Chùa Phật Giáo. Hình ảnh “tôn giáo hòa đồng” rất hiếm khi xất hiện tại Dallas-Fort Worth !

Một ngày còn lại tại New Orleans được anh chị Huỳnh Công Ánh, từ sáng sớm hành lý sẵn sàng “ra đi không trở lại”. Từ giã 5 con mèo hoang sau hai ngày làm quen bâng khuâng lưu luyến, tôi theo mọi người đến nhà anh Hội trưởng Cựu SVSQ/TB Thủ Đức Nguyễn Văn Cường, mọi người được đãi phở gà thật đậm đà, sau đó chụp hình kỷ niệm và chia tay…

Một ngày cuối cùng trước khi trở lại Dallas, chúng tôi được anh chị Ánh hướng dẫn làm một chuyến vòng quanh những địa danh nổi tiếng của New Orleans như Quán Café Du Monde , nhà thờ St. Louis Cathedral, khu Chợ Trời..

Tôi bắt đầu ghi lại thành phố New Orleans vào ký ức qua một số tài liệu trên internet…

(Trích)   

“New Orleans nằm về phía cực nam của tiểu bang Louisiana. Thành phố này có dân số khoảng  không đông đảo như Dallas, trong đó có một số đông người Việt nam sinh sống tại những vùng lân cận thành phố có nhiều nhà thờ hơn chùa.

 Dọc suốt hai bên đường tôi chỉ thấy toàn cây thông (pine) xanh ngát một mầu hay những cánh đồng cỏ tươi trải dài đến tận chân trời. Thỉnh thoảng, tôi thấy rải rác những dải đồng lầy, cây phủ um tùm, kéo dài hàng chục cây số. Nếu không để ý, có khi ta cứ tưởng đang lái xe trên mặt đường xa lộ bằng phẳng bình thường nhưng thực ra là ta đang đi trên những chiếc cầu được xây băng qua những vùng đồng lầy bao la ấy. Cảnh vật và đời sống vùng này khá hiền hoà phẳng lặng rất thích hợp cho những ai muốn xa lánh nơi phồn hoa đô hội. Lần trước, tôi đến đây ngủ nhà một người bà con, ban đêm nghe tiếng ếch, nhái kêu làm tôi nhớ lại lúc tôi còn trẻ sống ở vùng quê nơi quê nhà. Sáng sớm tỉnh dậy, tôi kéo hé cánh màn cửa sổ phòng ngủ để lấy chút ánh sáng ban mai ngồi đọc sách và nghe chim hót. Cái thích nhất là tầm nhìn không bị vướng chận bởi những hàng rào quanh nhà. Người anh trong nhà cho biết có buổi sáng trời mưa nhè nhẹ, rừng thông sau nhà như phủ mỏng lớp sương mù và ẩn hiện xa xa vài ngôi nhà đứng yên lặng trong mưa. Không một bóng người, không một tiếng động nào ngoài tiếng rơi nhẹ và thưa thớt của nước mưa chảy xuống từ mái hiên nhà. Mọi thứ như ngưng đọng lại với thời gian và thời gian dường như cũng ngưng đọng theo với cái không gian yên tịnh ấy. Yên tịnh nhưng không khô cứng mà là sự yên tịnh của sự an bình làm tâm hồn ta dễ trải dài ra và cũng dễ bay cao.

Thật là một điều kỳ thú khi ta tìm hiểu về mảnh đất “thuộc địa” Louisiana này. Như ta đã biết, đất nước Hoa kỳ hiện nay chiếm cả một một nửa lục địa Bắc Mỹ có đường ranh giới đông- tây chạy dài từ bờ biển Đại tây dương (Atlantic) sang đến tận bờ biển Thái bình dương (Pacific). Phía bắc giáp Canada và phía nam giáp với Mễ tây cơ. Nhưng nếu ta đi ngược lại dòng lich sử từ lúc khởi đầu lập quốc, nước Hoa kỳ chỉ là một dải đất hẹp dọc theo bờ biển Đại tây dương với 13 tiểu bang đầu tiên của Hiệp chủng quốc. Sau thời kỳ chiến thắng của American Revolution, đất nước Hoa kỳ được mở rộng sang phía tây tới dòng sông Mississippi và sông này đã trở thành ranh giới phía tây trong thời gian đó. Đó là bước đầu tiên cho sự mở mang lãnh thổ của Hoa kỳ.

Bước thứ hai trong việc mở rộng thêm bờ cõi là sự kiện mua lại đất Louisiana từ tay người Pháp. Mảnh đất Louisiana này, so với bản đồ hiện nay, chiếm một phần ba diện tích toàn thể Hoa kỳ (gồm 13 tiểu bang, trong đó có tiểu bang Louisiana ngày nay). Vào thời kỳ đó, cả người mua lẫn người bán đều không biết rõ đích thực diện tích mảnh đất mua bán này là bao rộng.

Việc mua đất Louisiana được diễn ra giữa Tổng thống Hoa kỳ là Thomas Jefferson và Napoleon Bonaparte của Pháp. Đây là biến cố lich sử to lớn của lịch sử Hoa kỳ. Năm 1803, khi Louisiana được mua từ tay người Pháp, ban đầu người dân Hoa kỳ không lấy gì làm thích thú lắm vì phần đất mua này thì quá xa, chưa hề được biết tới và chưa được khai phá. Tuy nhiên mọi người công nhận ngay được cái lợi điểm tức thời của nó là dòng sông Mississipi chảy ra vịnh Mễ tây cơ (Guft of Mexico), những cư dân của hai tiểu bang Kentucky và Tennessee có thể dễ dàng chuyên chở nông phẩm của họ xuôi theo dòng sông Mississippi để đến New Orleans. Thành phố New Orleans này có một thời gian nằm trong tay của người Tây ban nha (Spanish). Những sĩ quan Tây ban nha thường tùy tiện mở cửa hay đóng cửa khẩu sông Mississippi không cho tầu bè của Hoa kỳ qua lại mà không cần một lời giải thích. Tổng thống Jefferson nhận thấy cần phải làm một điều gì để giải quyết cho tình trạng bấp bênh đó và cũng quan ngại bất cứ một lực lượng ngoại quốc nào kiểm soát được dòng sông Mississippi và New Orleans thì đều nguy hiểm cho sự phát triển của Hoa kỳ. Nhân khi người Pháp lấy trở lại chủ quyền thuộc địa Louisiana từ tay người Tây ban nha, Tổng thống Jefferson nghĩ ngay đến những điều gì có thể xẩy ra, nếu một ngày nào đó, những người lính tinh nhuệ của Napoleon bất thình lình xuất hiện dọc theo bờ sông Mississippi này sẽ làm cản trở tiến trình bành trướng lãnh thổ về phía tây của Hoa kỳ trong tương lai.Với những lý do đó, Jefferson ra chỉ thị cho đại diện Hoa kỳ tại Pháp là Robert Livingston đề nghị với chính phủ Pháp mua lại thành phố New Orleans với giá 2 triệu đô la mà không nhắc nhở gì đến phần đất còn lại, nhưng không được Pháp trả lời. Mặc dù đề nghị này đã được lập lại vài lần nhưng vẫn bị Talleyrand, người đại diện của Napoleon dìm đi, nại cớ Napoleon còn rất bận trong những chuyện quan trọng khác hơn nên chưa thể quyết định được.

May mắn thay, một sự kiện bất ngờ xẩy ra: Napoleon bị thiếu hụt ngân sách một cách trầm trọng trong việc mở cuộc chiến tranh mới với người Anh (England). Napoleon biết rõ là không thể sử dụng được thuộc địa Louisiana xa xăm kia vào việc gì nên đề nghị không những bán luôn thành phố New Orleans lẫn cả phần đất thuộc địa Louisiana cho Hoa kỳ với giá 15 triệu đô la. Nhiều vị dân biểu Hoa kỳ trong Quốc hội muốn mua, nhưng cũng có nhiều vị khác chống lại, nhưng sau cùng Tổng thống Jefferson đã thắng lợi trong việc mua phần đất này.

Biến cố này có một mối lợi thật hiển nhiên về mặt diện tích là đất Louisiana, sau khi thám hiểm, mới biết nó rộng tới gần một triệu dặm vuông (square miles), lớn bằng 7 lần cả nước Anh (England), Tô cách lan (Scotland) và Ái nhĩ lan (Ireland) hợp lại, hay lớn hơn cả diện tích của nước Pháp, Đức, Ý, Tây ban nha, và Bồ đào nha (Portugal) hợp lại. Giá mua chỉ có 4 xu cho một mẫu vuông (acre). Phần đất Louisiana này đã tạo lập nên được 13 tiểu bang ngày nay cho Hoa kỳ.

Ta cũng nên nói thêm ở đây, việc thám hiểm vùng đất mới mua này được thực hiện ngay năm sau đó, năm 1804. Khởi đầu từ St Louis, ngã ba sông Missouri và Mississipi, dưới sự hướng dẫn của hai nhà thám hiểm trẻ tuổi là Meriwether Lewis và William Clark. Clark là đại úy trong quân đội, 34 tuổi, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu với người da đỏ và có kinh nghiệm về đời sống trong rừng. Còn Lewis, 30 tuổi, tùy viên (private secretary) của Tổng thống Jefferson được chọn là người đứng đầu cuộc hành trình với nhiệm vụ được giao phó thật rõ ràng là khám phá vùng đất mới mua rộng bao nhiêu, hoạch định con đường đi tới bờ biển Thái bình dương và tìm hiểu đời sống của người da đỏ ở những vùng đất ấy.

Gồm tổng cộng 13 người trên 3 chiếc thuyền nhỏ chở đầy lương thực và nước uống, đoàn thám hiểm đi ngược dòng sông Missouri hướng về phía tây để tới những vùng đất không có đường sá, không có bản đồ và không có bất cứ một hiểu biết nào về nó. Họ dự trù chuyến đi có thể kéo dài một năm, hai năm hay lâu hơn nữa .

Đoàn người gan dạ ấy đã mất sáu tháng đầu tiên để vượt 1600 dặm ngược dòng sông Missouri. Họ phải ngừng lại vì tuyết phủ của mùa đông và phải đóng đồn tại nơi, nay thuộc tiểu bang North Dakota. Vào sớm mùa xuân năm sau, tức1805, đoàn lại lên đường hướng về phía có rặng núi đá919;ng bộ lạc da đỏ thân thiện cung cấp ngựa và lương thực. Không những thế, đoàn thám hiểm còn được người da đỏ làm hướng dẫn viên trên những con đường nguy hiểm vượt qua dẫy núi Rocky Mountains. Khi tới đỉnh cao của Rocky Mountains thì hết lương thực, quần áo tả tơi và họ phải chịu đựng cái rét khủng khiếp của mùa đông trên độ cao ấy. Nhưng cuối cùng vào tháng 9 năm ấy ( 1805) họ cũng vượt qua được dẫy núi cao này để tới cao nguyên đất đỏ trải rộng phía dưới. Họ phải tự làm lấy 5 chiếc thuyền nhỏ trôi theo dòng sông Snake đổ về bình nguyên phì nhiêu và để rồi trôi đến dòng sông Columbia đổ ra biển Thái bình dương. Ngay cửa biển, họ xây đựng trại Fort Clatsop, mang tên bộ lạc da đỏ ở đây. Đoàn thám hiểm đón lễ Giáng sinh cùng với bộ lạc Clatsop và cùng họ trao đổi quà Giáng sinh. Đoàn thám hiểm ở lại Fort Clatsop để mong có thuyền bè nào đi ngang qua có thể cung cấp thực phẩm cho họ trên đường trở về, nhưng họ hoàn toàn thất vọng.

Tháng ba năm sau (1806) đoàn thám hiểm thực hiện chuyến trở về. Trong chuyến về này, mặc dù không kém phần gian nan, nhưng dù sao đi nữa, họ đã có sẵn một số kinh nghiệm của chuyến đi và nay họ chỉ cần lần về theo con đường cũ. Cuối cùng, họ trở về đến St Louis, nơi khởi hành, vào tháng 9 năm 1806.

Kể từ đầu năm 1804 đến tháng 9 năm 1806, đoàn thám hiểm đã hoàn thành công tác mà nhân dân Hoa kỳ và Tổng thống Jefferson kỳ vọng nơi họ. Họ đã vượt qua một chặng đường dài 8200 dặm đầy phiêu lưu gian khổ.

Đứng về mặt lich sử, chuyến đi thám hiểm này còn là chuyến đi mở đầucho nhiều năm sau đó, những người dân Hoa kỳ có óc phiêu lưu lần lần di dân về vùng đất mới, chinh phục dẫy núi Rocky Mountains để tiến sang tới bờ biển Thái bình dương, ranh giới phía tây của Hoa kỳ ngày nay .

New Orleans là một trong vài thành phố của Hoa kỳ có một lịch sử hết sức lý thú. Đây là thành phố mà số lượng đông đảo di dân người Pháp đã từ Âu châu khởi thủy sang tập trung lập nghiệp và còn tiếp tục sinh sống ở đây. Trải qua năm tháng dài gần hai thế kỷ với nhiều đổi thay, họ đã cố gắng giữ lại một phần văn hoá của riêng mình (văn hoá Pháp) như để tô điểm một nét đặc thù cho thành phố New Orleans. New Orleans được người Pháp lập nên vào năm 1718, sau đó 50 năm, vào năm 1769, người Pháp đã bán toàn bộ thuộc địa Louisiana, trong đó có thành phố New Orleans cho Tây ban nha (Spain). Người Tây ban nha đến cai trị thuộc địa này đến năm 1801, nghĩa là khoảng 30 năm sau, đất Louisiana lại trở về tay người Pháp để đánh đổi một phần đất của nước Ý (Italy) do Pháp chiếm cho Tây ban nha. Năm 1803, tức hai năm sau khi lấy lại, Pháp lại bán đất Louisiana cho Hoa kỳ như đã nói ở trên.

Người Pháp sinh sống ở New Orleans rất hoang mang về những thay đổi chủ quyền này. Họ không thích người Hoa kỳ trong thời gian ban đầu, nhưng dần dần họ cũng thích nghi được với chính quyền mới và sau đó họ trở thành những công dân Hoa kỳ.

Một biến cố lịch sử đã mang người Pháp sinh sống tai New Orleans đến gần hơn với người Hoa kỳ, đó là họ đã đứng bên cạnh người Hoa kỳ chiến đấu chống lại sự xâm lăng của người Anh trong cuộc chiến tranh được gọi là “chiến tranh 1812”.

“Chiến tranh 1812” là cuộc chiến xẩy ra giữa Hoa kỳ và người Anh. Theo nhận định của nhiều tác giả, cuộc chiến này thật không rõ ràng và không cần thiết cho cả hai dân tộc, chỉ vì một số dân biểu trẻ tuổi chủ chiến trong Quốc hội Hoa kỳ muốn chiếm Florida và Canada trong tay người Anh trong khi người Anh đang bận tay trong cuộc chiến với người Pháp lúc đó. Tháng 8 năm 1814, sau khi quân Anh khởi binh tiến đánh, đốt phá thủ đô Washington và sau đó họ chuyển quân qua đường biển tiến về thành phố New Orleans. Khi quân Anh đi ngang qua đảo Jamaica, họ tuyển thêm 4000 quân nữa.

Về phía Hoa kỳ, chiến quân được tuyển từ biên giới của những tiểu bang như Kentucky và Tennessee. Người dân Pháp ở New Orleans nhận thức được mình là thành viên của nước Hiệp chủng quốc non trẻ này nên đã đứng về phía Hoa kỳ chống lại quân Anh. Người cầm đầu của Hoa kỳ trong trận chiến đấu bảo vệ New Orleans là tướng Andrew Jackson (sau này trở thành Tổng thống Hoa kỳ). Chiến binh của Jackson chỉ có 5000 người, không có đồng phục, không được huấn luyện, nhưng trong số họ lại có những người thợ săn, bắn rất chính xác và có nhiều kinh nghiệm du kích săn đuổi quân thù. Năm nghìn quân của Andrew Jackson phải chiến đấu với 10,000 quân tinh nhuệ của Anh. Mặc dầu số quân của Jackson chỉ bằng phân nửa quân Anh nhưng họ vẫn chiến đấu kiên cường với chiến thuật du kích và xa luân chiến, bằng cách di chuyển nấp sau những thân cây hay hốc đá và áp dụng toán đánh toán nghỉ. Trong khi đó quân đội Anh vẫn giữ nguyên chiến thuật chiến đấu cổ điển của Âu Châu thời đó, nghĩa là binh lính xếp hàng ngang sát cánh nhau, hàng hàng lớp lớp, lớp này ngã xuống, lớp kế tiếp tiến lên. Cuối cùng chỉ trong vòng 20 phút đầu tiên, 2000 quân Anh bị giết thành đống trước chiến tuyến của đội quân Hoa kỳ. Phía Hoa kỳ chỉ thiệt hại có 13 người do họ đã điên rồ (foolish) rời nơi ẩn nấp của mình. Tướng Edward Packenham của Anh cũng bi giết trong trận này.

Tin chiến thắng (1815) tại New Orleans đã được truyền đi khắp nước một cách nhanh chóng và cũng từ sự chiến thắng ấy đã là nguyên nhân chính đem lại sự kết thúc cuộc “chiến tranh 1812” sau đó với những hiệp ước có lợi cho Hoa kỳ…

Thành phố New Orleans nằm bên bờ sông Mississippi, ngay khúc uốn cong nên còn có bí danh là Crescent city. Cứ chiếu theo những biến cố lịch sử, ta thấy ngay đây là thành phố có nét hoà hợp văn hoá của Pháp, Tây ban nha, Hoa kỳ để cấu tạo nên những nét văn hoá đặc thù riêng cho thành phố này như âm nhạc, thức ăn, những ngày lễ hội hàng năm (Mardi Gras) và những kiến trúc đẹp của ba nền văn hoá ấy. Mardi Gras, lễ hội xuân đầy sắc màu của New Orleans. Mardi Gras đã xuất hiện cách đây 300 năm, trên quảng trường Jackson Square ở khu phố Pháp của thành phố New Orleans – Mỹ, Mardi Gras là một trong những lễ hội mùa xuân sôi động và hấp dẫn nhất lôi cuốn đông đảo khách du lịch.”

(Ngưng trích)

Chúng tôi rất may mắn đến New Orleans vào thời điểm này trong dịp tham dự Kỷ Niệm 20 năm thành lập Hội Cựu SVSQ/TB Thủ Đức của Louisiana.

(Trích)

“Lễ hội truyền thống Mardi Gras này xuất phát từ các nước phương Tây theo đạo Thiên Chúa giáo thường được tổ chức vào khoảng tháng 2 hoặc tháng 3 hằng năm. “Mardi” trong tiếng Pháp có nghĩa là Thứ Ba và “Gras” có nghĩa là béo hay dư thừa. Theo tục lệ, những thực phẩm được dự trữ ăn cho nhiều ngày sẽ được “chén” sạch trong ngày Thứ Ba, ngay trước ngày Thứ Tư – Lễ Tro mà tất cả các tín đồ Thiên Chúa giáo phải ăn chay. Có rất nhiều hoạt động được diễn ra trong lễ hội này như diễu hành, hóa trang, đeo mặt nạ, đảo lộn các quy ước xã hội, biểu diễn ca múa nhạc, cùng những bữa tiệc với các món ăn truyền thống.

Theo luật của New Orleans, đeo mặt nạ là phạm pháp, trừ những ngày diễn ra lễ hội. Mặt nạ hóa trang được ví như linh hồn của Mardi Gras. Người dân tin rằng nó sẽ giúp rũ bỏ những hạn chế cá nhân, để tham gia lễ hội một cách thoải mái nhất.

“Bữa tiệc” này đúng là một dịp cho các họa sĩ thi tài thiết kế mẫu trang phục và vẽ mặt. Những trang phục kỳ dị đủ màu sắc được làm từ đủ thứ vật liệu, hoặc là những đồ trang sức đắt giá hay rẻ tiền. Những gương mặt được trang điểm một cách tỉ mỉ và quái dị. Bạn có thể nhìn thấy điều này trên tất cả các gương mặt tham gia Mardi Gras hay Carnival. Một màu xanh lè, tím rịm hoặc đỏ chót ngự trị trên mặt người đàn ông đàn bà hay của người giới tính thứ ba cùng vài hột kim tuyến, các vòng chuỗi hạt đen trắng quấn quanh cổ lòng thòng từ ngực xuống rốn cùng những mặt nạ ma quái, sừng trâu sừng bò. Tiếng nhạc rộn rã tưng bừng, người người nắm tay nhau, quay cuồng trong vòng nhảy.  Đoàn các vũ công nóng bỏng diễn hành trên các đường phố lớn với vũ điệu samba sôi động, tiếng trống rộn ràng; mọi người hóa trang cùng những bộ trang phục đầy màu sắc kết hợp với những đường cong nóng bỏng của các vũ công luôn khiến đám đông khán giả phải lắc lư cơ thể.

Bên cạnh đó, lễ hội sôi động này cũng nổi tiếng với món bánh vua. Chúng có hình tròn giống như chiếc vương miện và mang các sắc màu biểu tượng của Mardi Gras. Theo truyền thống, một bức tượng nhỏ được giấu trong chiếc bánh và ai chọn trúng chiếc bánh này sẽ phải đứng ra tổ chức lễ hội vào năm sau.”(hết trích)

Chúng tôi đi dọc theo phố này để tới thăm khu chợ được gọi là French Market (Người Việt Nam địa phương gọi là Chợ Trời). Ở nơi này, vào thời người Pháp mới lập nghiệp, người Da đỏ cũng tới đây buôn bán. Đến năm 1800 thì chợ được xây dựng thêm gồm cả Farmer’s Market tọa lạc ở phía cuối. Ngay đầu chợ được xây một cái cổng dựa theo hình thể tượng trưng của kiến trúc Khải hoàn môn như ở Paris nhưng quá đơn giản và xấu xí, trên có đề chữ French Market. Bên trong chợ bán đồ lưu niệm như mọi chợ bán lưu niệm khác, không có gì đặc biệt như cái tên French Market cả, chỉ trừ những gian hàng quần áo, boutiques hay gift shops có bảng hiệu bằng tiếng Pháp mà thôi. Giá một hộp Café du Monde ở đây là 6 đô la, chợ Việt nam tại Dallas bán với giá 3 hay 4 đô la một hộp là cùng! French Market giống chợ bên Mễ hơn là Pháp. Người bán hàng ở đây nói tiếng Mỹ, nếu có người nói tiếng Pháp thì cũng chỉ bập bẹ ú ớ dăm ba tiếng với du khách mà thôi. Chung quanh chợ, nổi bật nhất là những gian hàng bán khăn quàng lông (lông vũ) dài thườn thượt nhuộm màu xanh đỏ tím vàng dùng để quấn vào cổ trong những ngày lễ hội hóa trang Mardi Gras. Trong ba ngày tại New Orleans, vất vả nhất của chúng tôi là di chuyển mà thường ngày không có lễ hội Mardi Gras. Một quãng đường ngắn 5 miles mà phải mất hơn một giờ đồng hồ. Đi đâu cũng gặp người, nhiều trục lộ bị chặn vì dành cho những người diễn hành, tham gia lễ hội.

Related image

Sáng thứ hai trời có gió lại lạnh nên khi đậu xe xong là chúng tôi đến Café Du Monde vừa tìm chút hương vị dễ chịu và chút hơi ấm. Mặc dù ngày thứ hai nhưng chúng tôi cũng phải sắp hàng chờ bàn trống mới vào được. Mọi du khách đến khu này, ai cũng đến quán Café du Monde nổi tiếng cả thế kỷ nay để thưởng thức hương vị café ở đây ít nhất một lần. Họ bán café sữa (café au lait) gồm một nửa café và nửa sữa nóng pha sẵn giống theo kiểu café “bí tất” của ta chứ không phải café filtre với sữa đặc như tôi tưởng lúc ban đầu. Uống café sữa “bí tất” du Monde với bánh “đô-nắt” (doughnuts hay beignets) kiểu Pháp, nghĩa là hình khối vuông to bằng nửa nắm tay chứ không hình vành khăn hay tròn như của Mỹ. Mỗi đĩa đựng từ 3 tới 6 “đô nắt” tùy theo là đĩa nhỏ hay đĩa lớn. Trên mặt bánh “đô nắt” người ta trải một lớp “đường bột” giống như bột mì vậy (dusted sugar). Ăn bánh “đô nắt” nhâm nhi cốc café du Monde, chỉ có thế thôi, vâng, chỉ có thế thôi, mà lúc nào quán café này cũng đông nghẹt những người. Có lẽ du khách không phải đến đây để thưởng thức hương vị cà phê mà tôi cho là dở ẹc, mà họ đến đây để ngồi tại ngôi quán có một lịch sử lâu đời hơn cả trăm năm (1862), quán ấy nay đã trở thành biểu tượng của khu phố French Quarter này. Cũng không thể trách hương vị café ở đây được vì mỗi người có một cách thưởng thức với hương vị khác nhau và nhất là giá bán thật bình dân, 1 đô la rưỡi một cốc café lớn, đĩa “đô nắt” nhỏ gồm 3 chiếc giá 3 đô la, vừa túi tiền du khách, kể cả loại du khách “Tây ba lô” nghèo đói. Với giá đó tôi tự hỏi ta còn đòi hỏi gì thêm nữa nhỉ.

Sáng hôm nay, những người phục vụ tại đây đều là người Việt Nam. Quả đất thật tròn, tôi lại gặp cố hương tận vùng núi rừng Kontum, xứ sở mà tôi đã lìa xa hơn 20 năm… Bao nhiêu quấn quít, bao nhiêu kỷ niệm hiện về để cùng nhau kể chuyện quê nhà từ bà con đến dòng họ nội, ngoại…Hình ảnh mà tôi chưa bao giờ thấy, con chim se sẻ thân thiện, dạn dĩ thảnh thơi giữa đám người. Ca sĩ Thu Sương bảo rằng hình ảnh quá đẹp giữa chim và người … cái ác đã không còn ở đây!

Rời Café Du Monde chúng tôi băng qua đường  đến quảng trường Jackson (Jackson Square), quảng trường này trước đó nó có tên là Place d’Armes dưới thời Pháp và tên Plaza de Armas dưới thời Tây ban nha, và sau được đổi tên thành quảng trường Jackson kể từ năm 1848 để vinh danh vị tướng này trong trận đánh bảo vệ New Orleans như đã nói ở phần trên. Tại quảng trường này có tượng Jackson rất lớn, được coi là một trong những bức tượng đẹp nhất của đất nước. Đối diện với quảng trường Jackson về phía đường Chartres, tức hướng về phía thành phố, là nhà thờ Saint Louis to lớn và đẹp, có kiến trúc với 3 tháp nhọn. Nhà thờ này được xây hoàn tất vào năm 1794, đến năm 1851 được sửa lại thành kiến trúc sau cùng như ta thấy ngày nay. Dọc theo những con đường thuộc khu nhà thờ và quảng trường có hàng chục xe ngựa chờ đợi đưa du khách đi vòng quanh thành phố.

Ngay sát quảng trường Jackson, hướng về phía bờ sông là công viên Washington với khẩu súng thần công đúc rất đẹp. Trên đường Decatur cũng còn một bức tượng mạ vàng sáng chói, rất đẹp, có cờ Pháp bên cạnh, tôi đoán là tượng bà Jeanne d’Arc cưỡi ngựa, nữ anh hùng của Pháp.

Chụp chung với nhau vài tấm ảnh kỷ niệm nơi đây rồi chúng tôi ra xe tìm đường ra xa lộ 10 để lái qua chiếc cầu qua hồ Pontchartrain được mệnh danh là một trong những chiếc cầu dài nhất thế giới. Chiếc cầu này được xây băng qua Lake Pontchartrain nối liền thành phố New Orleans với thành phố khác bên kia hồ, chiều dài đúng 25 dặm.

Image result for lake pontchartrain causeway bridge

Thành phố New Orleans được mệnh danh là “thủ đô của nhạc Jazz” là “thủ đô của lễ hội hóa trang Mardi Gras”, “Thủ đô của béo phì” và cũng được mệnh danh là “thủ đô của tội phạm bắt cóc giết người”, đấy là nhận xét của người địa phương nói lại với chúng tôi.

New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana, một tiểu bang miền nam nước Mỹ nặng về nông nghiệp nên có đông đảo người da đen bị bắt cóc đem từ Phi châu về đây làm nô lệ từ thế kỷ trước. Những người da đen này sau khi được giải phóng, một số nhỏ dời lên những tiểu bang miền Bắc để làm công nghiệp, đa phần còn lại vẫn tiếp tục ở lại sinh sống trong tình trạng nghèo khổ, và cũng chính do sự nghèo khổ này nên dễ sinh ra những tệ nạn xã hội ở đây.

Viện bảo tàng. New Orleans không phải chỉ có French Quarter mà chúng tôi vừa thoáng đi qua mà thôi, nó còn là thành phố cổ kính và có nhiều di tích lịch sử với sự pha trộn của những nền văn hóa lớn, ắt hẳn còn nhiều điều cần xem, cần biết nhưng thật tiếc chúng tôi không có thì giờ để đi thăm nhiều hơn.

Nhìn chung, chuyến đi chơi New Orleans này đối với tôi thật là thú vị vì biết được những thắng cảnh, những sinh hoạt của người dân bản xứ sinh sống ở thành phố này hàng bao đời. Họ đã đổ bao nhiêu xương máu để tạo dựng nên mảnh đất ngày nay mà chúng ta đang được thừa hưởng. Mỗi bước chân tôi đi trên thành phố ấy, tôi thấy như dòng lịch sử cứ quay ngược trở lại để chúng tôi có cơ hội chiêm ngưỡng và thán phục sự đóng góp của những người đi trước với lòng biết ơn và sự kính trọng của riêng tôi.

Cám ơn anh chị Huỳnh Công Ánh, cám ơn anh Mai Thanh Truyết, anh Hoàng Tường, ca sĩ Thu Sương, ca sĩ Bùi Tuyền, nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị và những người bạn mới thành phố New Orleans.

Kim Dinh

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*