Nhà lý luận Nguyễn Gia Kiểng (Sept 1, 2001)        

Đại-Dương: – Với cương vị sáng lập Tổ chức chính trị Thông Luận, và với tham vọng qui tụ quần hào trong Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, ông Nguyễn Gia Kiểng hẳn phải có trình độ lý luận sắc bén và chính xác. Tiếc thay, lập luận trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn đã phản lại lý thuyết gia Nguyễn Gia Kiểng.

Những chữ trong ngoặc (“) được trích từ tác phẩm nêu trên.

Tôi nghĩ rằng trong thâm tâm không nhiều thì ít ai cũng yêu nước, và người cộng sản cũng thế, tr 4”.

Tôi đã nghiên cứu, quan sát và tâm tình với rất nhiều người cộng sản ở mọi trình độ và đi đến kết luận quả quyết rằng đại đa số những đảng viên cộng sản đã theo đảng vì chủ nghĩa chứ không phải vì lòng yêu nước, tr 65.

Hai trích đoạn trên đã thể hiện tính chất mâu thuẫn trong lối lập luận của ông Kiểng. Không biết hoặc thiên kiến đều là kẻ thù của lý luận gia.

Trong lĩnh vực lịch sử:

Cho nên lòng yêu nước của người Việt, mà mọi người quả quyết là mạnh, có thể chỉ là một sự hiểu lầm, tr 65”.

Nước Việt nằm sát nách ông láng giềng khổng lồ và đầy tham vọng mà không bị nuốt chững lại vẫn hiên ngang tồn tại tất phải nhờ vào lòng yêu nước vô bờ và tinh thần quật cường của nòi giống.

Cách cai trị hà khắc của nhà Minh, chiến tranh man rợ kiểu quân Mông Cổ đã không xóa sổ hoặc đồng hóa được nhược quốc phương Nam.

Lòng yêu nước tiềm ẩn trong con người Việt Nam. Nó trở nên mạnh hay yếu tùy thuộc vào phương pháp vận động quần chúng của nhà lãnh đạo hoặc tổ chức chính trị.

Ông Kiểng đã viện dẫn các dữ kiện lịch sử (như việc tranh bá đồ vương của thời kỳ bộ lạc, sứ quân, phong kiến; như nạn bách hại Công giáo thời nhà Nguyễn; như chuyện dân Sài Gòn “đánh Bắc kỳ” năm 1946; như vụ Hồ Chí Minh tiêu diệt các đảng phái quốc gia, thực hiện chính sách Cải cách Ruộng đất) để kết luận “từ bốn thế kỷ qua, đất nước Việt Nam ít khi là một, còn dân  tộc Việt Nam thì chưa bao giờ là một, tr 144.. Nó chứng tỏ người Việt Nam độc ác với nhau, và do đó không đáng với tên gọi là một dân tộc,  tr 146”.

Dữ kiện đưa ra đúng, nhưng, lập luận sai.

Trình độ văn minh của con người trong thời kỳ bộ lạc và sứ quân thể hiện bằng bạo lực để tồn tại. Loài người trong giai đoạn đó ở bất cứ chỗ nào trên trái đất đều hành xử giống nhau. Dân tộc Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Tranh bá đồ vương là đặc tính của thời đại phong kiến. Quốc gia được hình thành từ tham vọng và sức mạnh của một cá nhân hoặc dòng họ. Do đó, vua đồng nghĩa với đất nước và lê dân bá tánh đều là thần dân (nôm na là nô lệ). Có nước nào, xứ nào trên hành tinh của chúng ta đã thoát khỏi tiến trình lịch sử này?

Image result for Nguyễn Gia Kiểng

Đất nước độc lập vì không bị ngoại bang thống trị nhưng lê dân vẫn là nô lệ của vua chúa. Họ chém giết, độc ác với nhau vì mệnh vua chứ không vì hận thù dân tộc. Khi triều đại đổi thay, dân chúng chấm dứt việc sát hại và sống chan hòa với nhau như từng diễn ra khi hết giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh  ngoại trừ một vài cuộc trả thù cá nhân. Hoặc cuộc chiến ủy nhiệm 1954-75 ngoại trừ chính sách hận thù giai cấp của đảng Cộng sản Việt Nam.

Bách hại Công giáo là một vết nhơ dưới triều Nguyễn. Tuy nhiên, các cuộc Thập tự chinh của La Mã có qui mô to lớn bội phần. Trong cuộc công du tại Trung Đông năm 2001, đương kim Đức Giáo Hoàng đã chính thức xin lỗi Hồi Giáo. Sự bách hại người theo đạo Tin Lành đã tạo thành nhiều đợt di dân sang Tân Thế Giới. Như thế, bách hại tôn giáo là một đặc tính trong thời kỳ tranh chấp thần quyền, giáo quyền. Hằn thù Công Giáo chấm dứt khi triều Nguyễn bãi bỏ chủ trương “sát tả”.

Chuyện “đánh Bắc Kỳ” chỉ xảy ra một thời gian ngắn ngũi do sự xách động của một thế lực và mưu đồ chính trị. Hai triệu người Bắc di cư năm 1954 chẳng những hòa cùng nhịp sống của người Nam mà còn chung lưng đấu cật trong cuộc chiến dai dẳng, khốc liệt nhằm bảo vệ tự do cho Việt Nam Cộng Hòa.

Hồ Chí Minh tiêu diệt các đảng phái quốc gia, tiến hành Cải cách Ruộng đất để đưa đất nước vào quỷ đạo quốc tế vô sản. Đảng viên cộng sản thi hành chỉ thị với lòng hận thù giai cấp. Nó không mang màu sắc dân tộc khi họ xuống tay hành quyết kẻ thù giai cấp.

Không lẽ Thiên Triều sai Tổng đốc Lưỡng Quảng đem 20 vạn quân sang Việt Nam chỉ để đặt Lê Chiêu Thống lên ngai vàng? Đội quân đó có thể dùng chuẩn bị đối phó với Nguyễn Huệ. Trước khi điều quân chắc Thiên Triều đã biết rõ thực lực của Tây Sơn.

Tây Sơn đã án binh bất động và chỉ gởi một đội binh nhỏ “phải đánh thua” để cho quân Tàu khinh thường và tự mãn đi vào cõi chết.

Ông Kiểng chỉ là một sĩ quan văn phòng nên không thể hiểu được mưu mẹo của một người quen với “cật ngựa thanh gươm”. Vì thế, nên mới có can đảm đánh giá khả năng Nguyễn Huệ “còn về kiến thức binh bị thì nếu sống lại bây giờ, tôi không chắc là ông ấy có được một nữa kiến thức của một hạ sĩ quan”.

Sáng lập viên Thông Luận dè bỉu tiền nhân thích dùng bạo lực và “người Việt Nam có tâm lý tôn thờ bạo lực rất mạnh. Bạo lực càng nhiều, công đức càng cao, tr 96”.

Khái quát có 2 loại bạo lực: bạo lực thống trị và bạo lực tự vệ.

Dùng bạo lực để xâm lăng nước khác, áp đặt sự thống trị là việc làm đáng chê trách, khinh bỉ. Tuy nhiên, sử dụng bạo lực để tự vệ, thoát khỏi gông cùm áp bức là hành động đáng ca ngợi.

Liệu Thiên triều có để yên khi nước ta thiếu những người biết sử dụng bạo lực tự vệ hay không?

Ông Kiểng tin rằng, nếu người Việt chịu quỳ gối, khấu đầu với Bắc Phương thì sẽ có hòa bình độc lập tự chủ? Chúng ta giải thích như thế nào thời gian Bắc thuộc hàng ngàn năm? Và những giai đoạn tự chủ ngắn ngũi lại do kết quả của bạo lực tự vệ?

Trong lĩnh vực văn hóa

Ông Kiểng kết án Nho giáo là nguyên nhân gây ra tình trạng tụt hậu chậm tiến của đất nước ta. Khổng Tử là nhân vật trung tâm để ông Kiểng châm chọc.

Nhận xét của ông Kiểng đối với Nho giáo, Khổng Tử chứa đầy thiên kiến nên lập luận mang tính võ đoán.

Một học thuyết, triết lý do một cá nhân đưa ra thường được người đồng thời hoặc hậu bối sửa đổi và phát triển nhưng vẫn mang danh nghĩa của tác giả ban đầu. Khổng Giáo cũng không ngoại lệ.

Khái niệm dân chủ xuất hiện hàng ngàn năm trước đã biến thiên theo thời gian và thích ứng với từng thời đại. Không ai thóa mạ nguyên ủy thô sơ của dân chủ.

“có thể với thời gian ý nghĩa của danh từ tiểu nhân, quân tử đã biến đổi… thường coi sĩ và quân tử là những giá trị tinh thần, biểu tượng một nhân cách, một đạo đức và họ hay đồng hóa sĩ và quân tử với sự cao thượng”.

Ngày nay, có ai còn coi khái niệm dân chủ ban sơ như là khuôn vàng thước ngọc? Người Á Đông cũng chắc lọc tinh túy của Khổng Giáo và giữ lại ý nghĩa cao thượng để mô tả sĩ và quân tử. Giá trị đó có cần bài xích hay không?

“Nếu hiểu “hiếu” là kính trọng và tận tụy với cha mẹ, “nhân” là thương yêu người, “lễ” là giữ lời hứa và tôn trọng mọi cam kết, “trí” là cố gắng để đạt tới sự hiểu biết rộng thì dĩ nhiên đó là những giá trị của mọi xã hội và mọi nền văn minh chứ không phải là của riêng Khổng Giáo, tr 294”.

Những giá trị được Khổng Giáo dạy dỗ mang tính phổ cập của mọi xã hội, mọi nền văn minh thì tại sao lại phải bác bỏ?

Ông Kiểng lên án óc thủ cựu của Khổng Giáo “Tôn chỉ ‘thuật như bất tác’ chỉ lập lại mà không sáng tạo… không tìm cái mới mà thù ghét cái mới, tr 300.

Nhận xét đó lại bị phản bác bởi chính ông “Nhờ trường tư mà Khổng Tử đã đào tạo ra hàng ngàn sĩ tử… Các nhà trí thức lỗi lạc sau này dù vượt xa Khổng Tử và bài bác Khổng Tử cũng đều là những hậu bối tinh thần của Khổng Tử, tr 284”.

Những nhà tư tưởng sau Khổng Tử  như Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi, Công Tôn Long, Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư, Vương Thông… đều xuất thân từ lò Khổng Giáo nên không thể kết tội trường phái này gây nên sự trì trệ của tư tưởng.

Văn hóa là một tiến trình thẩm thấu, biến cải và thích ứng với cuộc sống. Áp đặt và bài xích đều là thái độ cực đoan dễ dẫn tới những hậu quả khốc liệt đối với đất nước dân tộc như  “cách mạng Đại văn hóa của Mao Trạch Đông”, “cách mạng văn hóa tư tưởng của Cộng sản Việt Nam.

Những tưởng quan điểm mác xít đã bị vùi chôn trong đống gạch vụn của chiếc nôi xã hội chủ nghĩa. Bổng dưng lại xuất hiện trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của ông Nguyễn Gia Kiểng “Công lao giữ nước như vậy không phải do các vua chúa, các anh hùng, các công hầu khanh tướng, cũng không do giới sĩ phu mà hoàn toàn do những người nông dân Việt Nam, tr 249”.

Chính trị là lĩnh vực chuyên tâm của ông Kiểng. Nhưng, phương pháp lý luận hình như chẳng thông.

Trong lĩnh vực chính trị

Image result for Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Công cuộc giữ nước là một hành động tập thể, toàn diện. Mọi thành phần dân chúng, tầng lớp xã hội đều trực tiếp tham gia và có công như nhau. Thông thường, người nông dân chỉ giữ vai trò thừa hành tích cực và cần thiết. Đám mác xít cố tình nhét vai trò lãnh đạo cho công, nông. Thực tế, những nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp không phải xuất thân từ nông dân. Những thập niên 1950-60-70 quan điểm mác xít tràn ngập xã hội Cộng sản. Kể từ giữa thập niên 1980, kiểu nói như trên không còn ăn khách nên đảng Cộng sản Việt Nam cũng chẳng dám huyênh  hoang.

“Thái độ châu chấu đá voi của triều Nguyễn chống Pháp tới cùng xét ra không lố bịch bằng thái độ của những người đã thảm bại và thua chạy nhưng  vẫn nhất định đòi những người cộng sản phải tỉnh ngộ quay về với chính nghĩa quốc gia”.

Bằng giọng điệu miệt thị kẻ khác, ông Kiểng cũng không che giấu được lối lý luận hàm hồ.

Triều Nguyễn có quân đội, vũ khí, dân chúng và danh nghĩa quốc gia độc lập để chống xâm lược. Họ thua vì khiếm khuyết về lãnh đạo, sai lầm về chiến lược, chiến thuật chứ không do thái độ châu chấu đá voi. Khi triều Nguyễn hàng giặc thì lập tức họ mất dân và đất nước chịu sự thống trị của thực dân Pháp suốt 2/3 thế kỷ. Trong thời gian đó, người Việt yêu nước, hết lớp này tới lớp khác vẫn tiếp tục chống lại sự đô hộ của giặc Pháp. Tinh thần kháng Pháp được nuôi dưỡng và bùng nổ mãnh liệt vào Mùa Thu năm 1945.

Tổ chức Thông Luận rồi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên của ông Kiểng cũng có tham vọng thay thế sự thống trị độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam bằng hoạt động đối lập nghị trường.

Tổ chức của ông Kiểng còn thua xa Nguyễn triều về thế, lực, danh nghĩa và địa lợi. Phải chăng ông Kiểng cũng thuộc loại châu chấu đá xe?

Bất cứ hoạt động chống chính quyền nào cũng manh nha từ một nhóm người. Nó từ từ lớn mạnh khi lãnh đạo biết tổ chức quần chúng và có đường lối chỉ đạo đúng cùng với quyết tâm sắt đá. Nếu không, sẽ bị đối phương lũng đoạn hoặc biến thành công cụ chiến lược. Vì thế, tổ tiên ta đã nói “Nực cười châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã ai ngờ xe nghiêng”.

Đảng viên Cộng sản bỏ Tổ quốc để phục vụ Quốc tế Vô sản. Bây giờ họ thức tỉnh quay về với dân tộc tức là chính nghĩa quốc gia. Nếu không từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin sao gọi là thức tỉnh? Chính nghĩa quốc gia không phải là ông Kiểng, ông A, bà B mà là dân tộc Việt Nam.

Thời Đệ nhị Thế chiến, nhiều người Pháp như tướng Charles De Gaulle đã thảm bại vì quân Đức đành phải bỏ chạy sang Anh Quốc lập chính phủ lưu vong. Trong khi đó, một số khác hợp tác hoặc phục vụ cho Đức quốc xã. Chính phủ lưu vong vẫn kêu gọi người Pháp đang phục vụ cho Đức phải trở về với dân Gaulois.

Lời kêu gọi đảng viên Cộng sản trở về với chính nghĩa quốc gia của những kẻ chiến bại chẳng có gì sai trái.

Ông Kiểng cũng thuộc loại thảm bại đang sống lưu vong và mang tham vọng  lật đổ chế độ cộng sản bằng phương pháp bất-bạo-động. Đừng vì thế, mà miệt thị những kẻ không chịu đứng dưới cây gậy chỉ huy của mình. Muốn hòa hợp với người khác, tốt nhất ông Kiểng nên tránh thái độ độc quyền chân lý.

“Không lẽ trong cả mấy chục năm trường những trí thức xuất sắc như thế lại không nhận ra thực chất tồi tệ của những người lãnh đạo cộng sản… những trí thức không cộng sản cũng đã từng phục tùng những công cụ chẳng ra gì của ngoại bang… đã đem hết tâm huyết hô hào biết bao thanh niên bỏ mình cho một lý tưởng dân chủ không hề làm bận tâm ông Diệm, ông Nhu, hay một “chính nghĩa quốc gia” không hề có trong đầu óc các ông Big Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, tr 311.

Trước thập niên 1980, thiên tả là thời trang của trí thức khắp toàn cầu. Trí thức dưới chế độ khắc nghiệt của cộng sản đã tự giác hoặc bị bắt buộc phải cuồng tín. Họ không nhận chân được tính chất tồi tệ và không tưởng của chủ nghĩa cộng sản; hoặc biết mà chẳng dám nói như lời thú nhận cuối đời của Nguyễn Tuân “Tớ sống còn nhờ biết sợ”.

Lãnh tụ cộng sản từ Hồ Chí Minh trở xuống đều là công cụ của Đệ tam Quốc tế bằng vào các văn kiện căn bản trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam. Ngược lại, các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa có thể vụng về, yếu thế trước đồng minh,  nhưng chưa có văn kiện căn bản nào chứng tỏ vai trò tay sai của họ. Tại miền Nam vĩ tuyến 17, bất cứ ai lên nắm chính quyền cũng đều bị gán cho nhãn hiệu tay sai Mỹ hoặc làm việc cho CIA. Đây là loại tâm lý bệnh hoạn cần xét lại hoặc bị tiêm nhiễm bởi lối tuyên truyền xám của Cộng sản.

Trong tình trạng chiến tranh, dân chủ có thể bị hạn chế để đổi lấy an ninh quốc gia. Hoa Kỳ đã áp dụng biện pháp kiểm soát chặt chẽ người Mỹ gốc Nhật trong Đệ nhị Thế chiến.

Tổng thống Đại Hàn Chung Đô Hoan từng đàn áp thẳng tay cuộc nổi dậy của thành phần thiên tả tại Đại học Quang Du làm thiệt mạng 2,400 sinh viên. Phong trào thiên tả xẹp xuống và quân đội Bắc Triều Tiên chỉ có thể đe dọa hoặc xách động từ bên kia giới tuyến. Ngược lại, sự thiếu-quyết-đoán của chính quyền Ngô Đình Diệm đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hà Nội lũng đoạn chính trường và xã hội miền Nam.

Các ông Minh, Khánh, Thiệu… tuy yếu kém về lãnh đạo; thiếu tầm nhìn chiến lược; sai lầm về chiến thuật, nhưng họ chưa ký một văn kiện nào có tính chất bán nước.

Ngược lại, Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Phạm Văn Đồng đã gởi văn kiện thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng trên quần đảo Hoàng Sa trong khi Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đang ra sức bảo vệ. Tổng bí thư Lê Duẩn nhượng đứt cho Liên Xô sử dụng hải cảng Cam Ranh mà không trả xu nào từ năm 1976 cho đến 2002 khi Tổng thống Vladimir Putin chẳng cần nữa. Đền thờ của Lê Duẩn vẫn khắc câu “Ta đánh Pháp, đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, là đánh cho Trung Quốc”.

“vấn đề đối lập của Việt Nam sau năm 1975 là phải tận dụng sự thức tỉnh của  những người cộng sản tiến bộ để hòa giải với họ và cùng họ hình thành một kết hợp dân chủ mới, tr 203.”

Ông Kiểng đề cập nhiều đến dự án tương lai chung như một điều kiện để hình thành Tập Họp Dân Chủ Đa Nguyên.

Nhưng, những người cộng sản thức tỉnh như Hà Sĩ Phu, Trần Độ… có cùng dự án tương lai chung với Thông Luận hay không?

Trong các bài tiểu luận, Hà Sĩ Phu chủ trương đảng cộng sản tiếp tục cầm quyền. Nếu cần tách làm hai thành lưỡng đảng. Người quốc gia chỉ có quyền  phụ họa.

Trần Độ nói thẳng “Chúng ta xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”.

Ông Kiểng tính họp với họ để chống đảng cộng sản đương quyền. Sau đó lại quay sang chống nhau vì không cùng chung con đường tương lai.

Chuyện này đã diễn ra trong thời kỳ Quốc-Cộng hè nhau chống Pháp. Lịch sử sẽ trừng phạt những kẻ cố tình quên đi bài học thực tiễn!

Có lẽ mục đích chính của cuốn Tổ Quốc Ăn Năn nhằm biện minh cho chủ trương Hòa Giải và Hòa Hợp Dân tộc cũng như phương pháp đấu tranh bất-bạo-động của ông Kiểng và nhóm Thông Luận, Tập Họp Dân Chủ Đa Nguyên.

Related image

“Khi nhóm Thông Luận đề xướng ra lập trường Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc, cái nhìn của chúng tôi không phải chỉ hạn hẹp trong khuôn khổ cuộc tranh chấp quốc gia-cộng sản, mà là cái nhìn bao quát cho cả một dòng lịch sử đau thương của dân tộc này … Chúng ta cần ý thức được rằng Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc là một vấn đề vô cùng nặng nề và gai góc, cho nên cần được thực hiện với tất cả quyết tâm, với tất cả tâm hồn và với tất cả kiên nhẫn, tr 147”.

Sở dĩ lập trường Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc của nhóm Thông Luận không thu hút được sự ủng hộ của quảng đại quần chúng vì sai lầm trên căn bản lý luận lẫn thực tế khách quan.

Nhóm Thông Luận cố tình lầm lẫn sự kỳ thị chủng tộc, địa phương, tôn giáo, giai cấp với hận thù dân tộc. Không một quốc gia nào trên thế giới từ cổ chí kim có thể thoát khỏi các căn bệnh chung của nhân loại được nêu bên trên.

Tại các quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời như Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Đức … vẫn diễn ra tình trạng kỳ thị triền miên. Tệ nạn đó bị giới hạn tối đa nhờ hệ thống luật pháp cưỡng hành hữu hiệu chứ không nhờ vào lý thuyết hòa giải hòa hợp dân tộc. Mọi sai phạm đều bị luật pháp chế tài đúng mức.

Bằng chủ trương hận thù giai cấp, đảng Cộng sản Việt Nam chia dân tộc thành 2 bộ phận thống trị và bị trị. Nguyên nhân của thù hận xuất phát và được bảo vệ từ đảng Cộng sản. Nhưng, ở trong nước, nhóm Thông Luận không chủ trương hòa giải với đảng Cộng sản; tại hải ngoại lại không dung hòa với các quan điểm đối nghịch.

Chủ trương Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc của nhóm Thông Luận xuất phát từ một tiền đề ngộ nhận và bằng phương pháp bất dung nên không có tương lai.

Hòa Giải Dân Tộc từng là một trong những lực lượng của giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam theo Hiệp Định Ba Lê năm 1973. Khi Cộng sản chiếm trọn Việt Nam, nhiều người trong lực lượng này đã phải bỏ của chạy lấy người ra ngoại quốc. Số còn lại giống như những con gà nuốt dây thun. Họ không hòa giải được hận thù quốc-cộng như từng huênh hoang mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho hận thù giai cấp.

Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu chủ trương đuổi Mỹ để tạo điều kiện thuận tiện cho việc hòa giải và chung sống với người anh phía bên kia. Hà Nội thương tình cho lưu vong để gặm nhấm nỗi ngây thơ chính trị và chịu sự miệt thị của đồng hương nơi xứ người.

Chả lẽ, cứ cắm đầu giải một bài toán từng có đáp số sai như một tên cuồng tín hay sao?

Ông Nguyễn Gia Kiểng dè bỉu những người, tổ chức chủ trương sử dụng bạo lực nhằm lật đổ chế độ Cộng sản tại Việt Nam “Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán thành  đường lối đấu tranh của họ, tr 98”.

Nhưng, chủ trương đấu tranh bất-bạo-động của nhóm Thông Luận có hợp với lý luận và điều kiện thực tế hay không?

Người từng áp dụng phương pháp đấu tranh bất-bạo-động nổi tiếng nhất thế giới và đã thành công rực rỡ là thánh Gandhi.

Hai yếu tố quan trọng giúp cho thuyết đấu tranh bất-bạo-động thành công tại Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của thánh Gandhi: bất-hợp-tác và chịu đựng.

Ông luật sư trẻ Gandhi tốt nghiệp ở Anh Quốc muốn biến thành một nhà quí phái để hoạt động nghị trường hầu đấu tranh cho Ấn Độ. Nhưng, khi nhận ra sự hợp tác với thực dân Anh bị phản bội, ông liền chuyển hướng. Thánh Gandhi trở về với truyền thống Ấn Độ, bất-hợp-tác với chính quyền, kể cả việc tẩy chay hàng hóa của người Anh.

Hình ảnh một ông già gầy nhom, chịu đựng những trận đòn hội chợ của nhà đương cuộc đã là ngọn đuốc soi đường cho toàn dân Ấn. Chịu đòn chẳng than van nhưng quyết không xa rời yêu sách.

Nhóm Thông Luận áp dụng thể thức đối lập nghị trường và trú sở ở Ba Lê nên khó làm ngọn đuốc dẫn đường.

Ông Kiểng say mê mô hình Hòa Lan nhưng thiếu phân tích chính xác. Hòa Lan đã thực hiện cuộc cách mạng lật đổ trước khi xây dựng nền dân chủ phồn thịnh như ngày nay. Như thế, chứng tỏ dân chúng Hòa Lan đã phải sử dụng bạo lực tự vệ là việc làm chính đáng. Dân chúng Hòa Lan đã không chơi trò đối lập chính trị kiểu nghị trường với bọn thống trị Tây Ban Nha.

Ông Kiểng ca tụng tinh thần thương mại của người Hòa Lan. Nhưng, cũng chính đầu óc con buôn đã khiến người Hoa Lan xâm chiếm và đô hộ Nam Dương suốt nửa thế kỷ.  Chính bọn con buôn đã dọn đường cho chủ nghĩa thực dân xâm chiếm thuộc địa và nô lệ dân tộc khác.

Phần lớn con buôn thường yêu tiền trước yêu nước và có xu hướng câu kết với chính quyền bất chấp quyền lợi của quảng đại quần chúng, nếu không có luật pháp chế tài nghiêm ngặt. Thời Pháp thuộc, con buôn nhận đặc quyền của nhà đương cuộc để thao túng thị trường.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, vì quyền lợi cá nhân, thương gia sẵn sàng đóng thuế và lén lút buôn bán với cộng sản trong khi bao nhiêu thanh niên phải hy sinh mạng sống trong các hoạt động cắt đứt binh lương của kẻ thù.

Tinh thần kinh doanh là yếu tố góp phần phồn thịnh cho xứ sở. Nhưng, không phải là yếu tố duy nhất trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, dân tộc.

Xin mượn lời của ông Nguyễn Gia Kiểng để kết luận về cuốn Tổ Quốc Ăn Năn “Tôi nghĩ nên cố gắng để nói ra những điều mới và nếu trong mười điều mới nói ra có tới chín điều sai và chỉ một điều đúng thì cũng còn có ích hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng đều là những điều đã biết”.

Đại-Dương

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*