Nguyễn thị Cỏ May: Đến hẹn, lại không lên

“Theo Cộng Sản vì yêu nước, bị phản bội, còn đau hơn là những người đã biết thực chất CS từ những ngày đầu. Cuộc đời của anh Trí là một thảm kịch. Như cuộc đời của rất nhiều người VN” (Từ Thức).

Hôm 17 tháng 5, chúng tôi hẹn nhau tại một địa điểm ở Paris X, gặp nhau, thăm hỏi nhau và ăn trưa, nói chuyện vui với nhau nhơn có một người bạn ở Poitiers lên Paris. Việc hẹn gặp nhau, chúng tôi thường làm khi có cơ hội.

Gần tới giờ, anh Võ Nhơn Trí điện thoại “xin cáo lỗi vì đi khám bệnh về, mệt lắm, lết không nổi nữa”.

Bạn bè ai cũng nghĩ lớn tuổi, đi khám bịnh về, thường bị mệt vì ngồi chờ đợi, khám với những tư thế xoay trở, hít thở, quơi tay, dang chân… làm cho bệnh nhân dễ bị căng thẳng và mệt. Đi khám bệnh, anh Trí đi bộ, lên xuống bus/métro, đi về 2 bận, càng dễ bị mệt hơn tuy đi không xa lắm vì chỉ trong Paris.

Hôm sau, bạn điện thoại thăm anh nhưng không nhận được trả lời, lại nghỉ anh mệt, không dậy lấy điện thoại.

Rồi ngày qua… không như anh em nghĩ anh “không lết nổi nữa” trong ý nghĩa bình thường của cách anh nói. Mà lần này nó có ý nghĩa khác hẳn. Anh không lết nổi nữa mà anh đi. Vì anh đi được. Anh đi thật xa, thật cao, nơi không gian mênh mông, vô tận.

Anh vĩnh viễn từ giã anh em, bạn bè, chơi với nhau, thân nhau từ năm 1984, ngày anh trở lại Pháp.

Nam kỳ, tiều tư sản, trí thức tây học 

Võ Nhơn Trí sanh tại Sa Đéc tháng 11 năm 1927, lớn lên bên quê nội Rạch Giá, học Trung học nội trú ở Taberd Sài Gòn.

Thật sự ông không phải tên Võ Nhân Trí mà là Robin Võ. Cũng như nhiều gia đình Tây học, giàu có ở Nam kỳ, ông có quốc tịch Pháp, lấy tên theo Pháp. Năm 1960, ông đưa vợ cùng về Hà Nội, tới Tòa Đại diện Hà Nội ở Paris làm thông hành, họ mới bỏ tên Tây thực dân, viết tên Việt Nam là Võ NHÂN Trí cho ông.

Anh em phê bình “Anh là dân Nam kỳ chính gốc thì phải NHƠN chớ tại sao NHÂN?”. Ông nói tụi nó viết, tui cũng không thèm để ý. Vậy bây giờ viết lại NHƠN, bỏ NHÂN đi. Từ đây, tên của ông ghi trên sách, các bài biên khảo của ông, mới viết là Võ NHƠN Trí. Tuy nhiên cũng còn nhiều nơi viết NHÂN theo thói quen cũ.

Ở nội trú Taberd, lúc lên Đệ Nhị cấp, phòng ngủ của ông thuộc dãy nhà nằm sát tường bên kia là Bót Catinat. Nhiều đêm, ông giật mình thức giấc vì những tiếng rên la của phạm nhân bị lính Tây tra tấn. Tỉnh ngủ, nằm suy nghĩ, ông cảm thấy ghét lính Tây. Ngày qua ngày, ông thấy hận thù Tây thực dân.

Xong trung học, gia đình cho ông qua Pháp học đại học. Ở Paris, ông học chính trị ở Viện Chính trị học, tốt nghiệp Trường Quốc gia Tổ chức Kinh tế và Xã hội (ENOES – Kỹ sư Thương mại), Tiến sĩ Luật, và qua Anh học thêm Kinh tế (Ph.D).

Năm 1960, ông đưa vợ cùng về Hà Nội phục vụ chế độ cộng sản Bắc Việt. Đây là sự chọn lựa của ông do phản ứng từ lòng thù hận lính Tây thực dân những năm tuổi trẻ ở nội trú Taberd. Nếu ông về Sài Gòn như nhiều người khác, thì cuộc đời của ông chắc chắn đã khác, thật sự có cơ hội và điều kiện tốt để phục vụ đất nước, có đời sống gia đình giàu sang. Hoặc ông ở lại Pháp, vừa không phải sống trong lo sợ chiến tranh vì bà vợ là Dược sĩ, Vi trùng học, đang làm việc ở Viện Pasteur có lương lớn.

Về tới Hà Nội, việc đầu tiên là khai sơ yếu lý lịch. Ông thành khẩn khai báo “gia đình địa chủ, tiểu tư sản, học ở Pháp Anh. Cả vợ cũng gia đình tiiểu tư sản, Tây học”.

Nhắc lại, lúc ở Sài Gòn, vì căm thù Tây thực dân, khi qua Pháp, năm 1952, ông liền gia nhập đảng cộng sản Pháp để cùng với giới trẻ tả phái tranh đấu chống thực dân ở thuộc địa. Về Hà Nội, qua năm sau, ông được kết nạp vào đảng CSVN.

Nhưng cả ông bà suốt hai năm đầu được đảng đãi ngộ, chỉ cho ngồi chơi, đi tham quan, chớ chưa cho một việc gì làm. Hăng hái, nhiệt tình phục vụ đất nước xã hội chủ nghĩa mà, hết ngày này qua tháng kia, chỉ ngồi chơi thì không gì khác hơn, đối với người trí thức có nhu cầu làm việc, là một hình phạt, một cách tra tấn tinh thần day dẳng, ngấm ngầm mà bào mòn theo ngày tháng. Thật ghê gớm!

Sau cùng, bà vợ của ông được chỉ định làm việc trong một phòng thí nghiệm với một chị Trưởng phòng răng đen mả tấu, dược sĩ tốt nghiệp Hà Nội và Liên Sô, mà kiến thức chuyên môn, theo bà Trí nhận xét, không bằng một nhân viên trợ lý phòng thí nghiệm (laborantine) ở Viện Pasteur nơi bà làm việc trước kia. Đúng hơn không khác gì một lao công rửa dụng cụ thí nghiệm. Nhưng tác phong của Trưởng phòng để lãnh đạo nhân viên dưới tay bà thì hoàn toàn cách mạng đỏ ói.

Về phần ông Trí, ông được cho làm việc với tư cách Chuyên viên nghiên cúu ở Ủy Ban Khoa Học Xã hội Việt Nam (Viện Kinh tế ở Hà nội và Viện Xã hội ở Tp/HCM sau 1975).

Năm 1967, ông viết quyển “Phát triển kinh tế của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam 1945-1965”. Khi biên soạn, ông được phép vào kho luu trử dữ liệu kinh tế để tham khảo. Nhân cơ hội này, ông mới biết những dữ liệu kinh tế có những mức độ chính xác khác nhau, dành cho cán bộ ở cấp bực và trình độ cũng khác nhau.

Những tài liệu gần với sự thật hơn hết chỉ dành cho Bộ Chính trị, gần gần với sự thật thì dành cho cán bộ Trung ương đảng, những tài liệu dành cho cán bộ tuyên truyền ra quần chúng thì chỉ còn sự thật của tuyên truyền.

Cán bộ nghiên cứu, ông cũng chỉ được quyền tham khảo nhưng khi sử dụng thì phải biết giữ đúng liều lượng cần thiết.

Ngoài công việc nghiên cứu theo chỉ thị của đảng, ông còn được đưa qua phái đoàn tuyên truyền cho chiến tranh giải phóng ở các nước Đệ tam như Algérie, Châu Phi. Trong công tác này, ông được đảng và chính phủ long trọng giới thiệu ông thuộc thành phần đại địa chủ, tư sản, Tây học ở Nam Bộ mà từ bỏ giai cấp, sớm giác ngộ cách mạng nên theo cách mạng. Ông dĩ nhiên được hoan nghênh nhiệt liệt. Công tác quan trọng của ông là đi tuyên truyền cho Mặt Trận Giải phóng Miền Nam.

Có lần trên đường về, ông ghé qua Paris. Ông được bạn bè Việt kiều yêu nước ở Paris mời tới nhà ăn cơm. Họ hỏi ông tình hình ở Hà Nội, địa vị và quyền lợi của người về phục vụ đất nước như ông. Có lẽ họ cũng có ý định về. Ông Trí kể hết những gì ông chứng kiến, ông thể nghiệm qua thân phận của chính ông và ông cực lực khuyên họ đừng bao giờ về. Và ông căn dặn đừng nói ra vì ông còn trở về bên ấy.

Sau 1975, nhiều người gốc Miền Nam lần lượt về Nam. Riêng ông nhiều lần xin về, vẫn không được về. Mãi mấy năm sau, ông mới được về Nam. Khi lấy giấp phép về công tác Viện Khoa Học Xã hội Tp. HCM, ông gặp Phó Thủ tướng Trần Phương. Ông Phương hỏi ông có biết tại sao tới nay, ông mới được phép về Nam hay không?

Ông thật thà bảo không biết. Ông Phương giải thích nếu cho ông về sớm như mấy người kia thì trí thức Nam Bộ sẽ không còn một người. Ông Phương hỏi ông có nhớ lúc ông ghé qua Paris trước kia, ông nói gì với Việt kiều hay không?

Ông Trí giựt mình. Ông đã căn dặn anh em giữ kín cho ông thế mà vẫn có người báo cáo.

Năm 1980, từ Sài gòn, ông về Sa Đéc ăn giỗ. Xe đò ngừng chờ qua phà Mỹ Thuận. Ông đi ra mé sông đi tiểu. Bỗng đâu công an ập tới bắt ông, cho ông toan vượt biên. Ông bị nhốt và điều tra. Tối ngủ trên nền đất với những tù khác đủ loại. Ông xuất trình giấy tờ cán bộ nghiên cúu Viện Khoa học Xã hội nhưng công an lờ đi. Sau cả tháng, cán bộ Chủ nhiệm của ông ở Hà Nội đem giấy tờ vào trình công an, ông mới được thả ra. Lúc cán bộ chủ nhiệm tới, vốn quen biết lâu ngày, khá thân, nhưng hôm ấy, anh ta làm mặt lạnh nhạt, không chào hỏi, không bắt tay, không nói một câu hỏi thăm nhau. Ông Trí thấy thêm tình đồng chí cách mạng thật thấm thía.

Trả thẻ đảng, qua Pháp 

Sau khi gia đình lần lượt tìm cách qua Pháp, ông ở lại làm con tin. Năm 1984, ông mới có cơ hội đi khỏi Việt Nam nhờ người em, đệ tử của nhà toán học Laurent Schwartz, yêu cầu ông can thiệp với Hà Nội nhân một phái đoàn pháp gặp Chính phủ Hà nội. Thật ra Hà Nội cũng chẳng muốn giữ ông lại làm gì, chỉ tốn cơm mà còn thêm thấy ghét.

Trở qua Pháp, cả ông bà đều cao tuổi. Bà phải làm lại cuôc sống từ đầu. Đi làm công cho pharmacie ở ngoại ô, nơi 8 giờ tối là hết xe. Nhiều lúc bà phải lội bộ vài km, cả dưới trời tuyết.

Còn ông có dịp suy nghĩ, viết lách tự do, hoàn toàn theo suy nghĩ của ông. Ông được một Trường đại học ở Nhật mời viết về kinh tế Việt Nam sau 75.

Năm 1990, ông viết xong quyển “Chính sách kinh tế Việt Nam từ 1975” do Đại học Singapore xuất bản, sau 3 năm làm việc cho Viện Đại học. Quyển này được tái bản năm 1992.

Ngoài sách, ông còn viết nhiều bài biên khảo phê phán chính sách kinh tế, chính trị của Hà Nội cho các báo Việt ngữ hải ngoại. Ông tham dự nhiều chương trình hội thảo chính trị ở Sydney do Trung Tâm Đồng Tâm tổ chức (1995), ở Hoa kỳ (AEI – American Enterprise Institute for Public Policy Research), ở Quốc Hội Hoa Kỳ do Ủy Ban Quốc tế Yểm trợ Việt Nam Tự do tổ chức, trả lời nhiều cuộc phỏng vần của các Đài phát thanh (RFA) về Hà Nội vi phạm nhân quyền, về tội ác của chính sách cộng sản ở Việt Nam…

Ở đâu, lúc nào có cơ hội là ông hăng hái vạch trần sự bịp bợm, sự tàn ác của chế độ CS Hà Nội đối với dân chúng Việt Nam. Ông tâm niệm mình đã từng nạn nhân của chế độ, từng chứng kiến chính sách phi nhân ấy, nay có cơ hội nói tự do, phải tố cáo nó cho mọi người biết để đừng để bị chúng nó gạt. Biết mà không nói ra là có tội. Ông còn nói rõ “Đó là crime” (tội hình sự / trọng tội).

Ở Paris, mỗi khi có một phái đoàn chính phủ Hà Nội qua vận động, tuyên truyền với dư luận người Pháp và Việt kiều, ông tới tham dự để chất vấn, làm cho dư luận hiểu sự thật ở Việt Nam. Có lần phái đoàn do Phó Thủ tướng Chính phủ hướng dẩn, nói chuyện về Việt Nam phát triển để mời gọi Pháp đầu tư. Phó Thủ tướng Phan văn Khải nói bằng tiếng việt, có người thông dịch cho cử tọa người Pháp. Ông Trí can thiệp, dĩ nhiên phải nói tiếng Pháp. Thấy đại diện Hà Nội vẫn nói lấy được như ở trong xứ, ông phản bác mạnh. Trong lúc bực tức, ông không kềm được nên chửi thề (theo thói quen của ông) trước khi nói lời bằng tiếng Pháp. Dĩ nhiên chỉ có người Việt hiểu và Việt kiều, cả ông Phó Thủ tướng đều xụ mặt. Võ Nhơn Trí là vậy. Và anh em thương Võ Nhơn Trí cũng vì cái Nam kỳ đặc sệt đó.

Việt Nam cần đổi mới thật sự 

Sau thời gian dài theo dõi sát tình hình Việt Nam, Võ Nhơn Trí viết quyển “Việt Nam cần đổi mới thật sự” bằng tiếng Việt do Đông Á ở Vancouver, Canada, xuất bản năm 2003. Quyển sách làm Hà Nội cay cú vì ông vạch trần những sai lầm, những dối trá, bản chất chế độ là độc tài ác ôn vì rặp khuôn theo Tàu làm mẫu mực.

Ông giải nghĩa chính sách “đổi mới” là sự chuyển hóa chủ nghĩa xã hội theo kiểu “Mác-Lê-Mao” sang thứ chủ nghĩa xã hội theo kiểu “Mác-Lê-Đặng” và “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Theo Yang Chungi, một nhà chính trị học Trung Quốc, chính sách đổi mới ở Việt Nam thực hiện theo những điểm căn bản sau đây rặp khuôn Trung Cộng:

– Phát triển lực lượng sản xuất,

– Dân giàu nhưng lần lượt kẻ trước, người sau,

– Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

– Dân chủ XHCN, pháp luật XHCN, văn hóa XHCN…

– Mở cửa ra các nước tư bản nhằm học tập, lợi dụng vốn liếng, kỹ thuật của tư bản để xây dựng CNXH, hiện đại hóa nền kinh tế, nhất là trong giai đọan đầu của CNXH (nhưng giai đoạn này kéo dài không biết bao lâu, cả ngàn năm?

Còn tư tưởng Hồ Chí Minh? 

Võ Nhơn Trí viết “Theo gương đảng cộng sản Tàu cộng đề cao tư tưởng Mao Trạch Đông, đảng cộng sàn Việt Nam cũng từ 1991 trở đi, đề cao một cách giả tạo cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh tại Đại hội 7 của họ để có chút ít bản sắc dân tộc sau khi Liên Sô và Đông Âu sụp đổ”.

Hồ Chí Minh tâm đắc quan điểm của Staline “Đảng cộng sản là công cụ của chuyên chính vô sản” và “chuyên chính vô sản về thực chất được thay thế bởi chuyên chính của đảng cộng sản”. Mà trong thực tế, chuyên chính của đảng cộng sản là chuyên chính của một người, đó là Staline. Vì vậy, Boris Souvarine từng cho rằng Hồ Chí Minh là một đệ tử tuyệt trần của Staline.

Anh đi về đâu, Anh mất về đâu? 

Hôm mùng 7 tháng 6, tại phòng tang lễ “Dernier Hommage” của nghĩa trang Père Lachaise ở Paris XX, có hai người bạn thân lâu năm của Võ Nhơn Trí, có mặt để tiễn đưa ông lên đường.

Cụ TTH, bạn cùng tuổi với Cụ Võ Nhơn Trí, ngõ lời thương tiếc người bạn vừa ra đi “Mọi cuộc chia ly đều buồn thảm, kể cả những cuộc chia ly người ta ước muốn”, như nhà văn danh tiếng của Pháp, Anatole France, thế kỷ trước, đã viết như vậy. Với thân nhân của người quá cố nỗi buồn chia tay vĩnh viễn với ông mênh mang như ảnh tượng trong thơ của Đỗ Phủ “càn khôn hàm sang di, trời đất còn mang vết thương đau”.

Ông Võ Nhơn Trí, thông qua những hoạt động dưới nhiều hình thức của mình, đã xử sự như một nhà tư tưởng độc lập, tự do.

Anh ra đi trong nỗi thương nhớ của thân nhân và bạn bè.

Anh đã để lại cho đời sau cả một di sản tinh thần của trí tuệ, của lương tâm cao thượng của một nhà trí thức chuyên gia mang hoài bão Kinh Bang Tế Thế. Nhưng thời thế đã ngăn trở anh Kinh Bang. Đó là một nghịch lý mà hơn một nửa thế kỷ nay anh quyết chí xóa bỏ. Anh đã tận dụng mọi cơ hội để vang vọng lời kêu gọi xoá bỏ của anh trên nhiều diễn đàn trong nước cũng như ngoài nước. Lời kêu gọi không khoan nhượng của anh, những lời kêu gọi mang tính cách mạng cải tạo xã hội được lắng nghe ở khắp nơi trong sự thuyết phục và kính trọng.

Thái độ kiên trì của anh đã dựng lên một sự nghiệp cải tạo thời thế gương mẫu. Và thái độ ấy đã lôi cuốn lòng người lên đường xây dựng một cuộc đời tươi đẹp được giải phóng khỏi nghèo túng và sợ hãi, chẳng những cho dân tộc Việt Nam mà cho cả nhân loại.

Rất đáng tiếc là anh đã vĩnh viễn ra đi khi sự nghiệp cứu giúp cuộc đời của anh chưa thành đạt.

Thật là một vinh dự đặc biệt cho chúng tôi dịp này được nhắc nhở công lao cao đẹp của một nhân vật mà kiến thức bén nhọn, toàn trí toàn tâm phục vụ vô vụ lợi đã triển khai tài năng, tâm trí làm đẹp cuộc đời.

Cầu mong anh sớm đến thế giới ở phương Tây xa thẳm, nơi Hoa Khai Kiến Phật Ngộ Vô Sinh.

Xin vĩnh biệt anh Võ Nhơn Trí” 

Vĩnh biệt một trí thức lương thiện! 

Nhà báo Từ Thức, trong lời “Tiễn đưa Võ Nhơn Trí” viết “Theo Cộng Sản vì yêu nước, bị phản bội, còn đau hơn là những người đã biết thực chất CS từ những ngày đầu. Cuộc đời của anh Trí là một thảm kịch. Như cuộc đời của rất nhiều người VN”. Bởi trong xã hội ở Việt Nam ngày nay, người lương thiện, ái quốc không có chỗ đứng.

Một người bạn khác, nhà Toán học BDKhanh, nghe tin Anh Võ Nhơn Trí mất, gởi ngay 2 câu thơ của Bùi Giáng để tưởng niệm người bạn quá cố:

“Bao đêm thao thức thật thà 
Tìm tòi chân lý, té ra tầm ruồng!” 

Nguyễn thị Cỏ May
14.06.2019

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*