Nguyễn Châu: Năm Hợi nói chuyện Heo

Hợi là CHI cuối cùng trong 12 chi, (thường gọi là “mười hai con Giáp” gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, HỢI). Tượng hình của năm HỢI là CON HEO (LỢN).

Chữ “HỢI”trong tử vi Đông phương không có nghĩa là Heo.

Tiếng Hoa, TRƯ (bộ thỉ) có nghĩa là heo.

Năm KỶ HỢI (2019) thuộc hành MỘC. BÌNH ĐỊA MỘC, hình tượng nạp âm của Mậu Tuất và Kỷ Hợi là “cây non mới đâm cành trổ lá, cần THỦY (mưa móc), rất sợ tuyết sương, cũng cần HỎA của thái dương ấm áp. Nếu đa hỏa mộc bình địa sẽ chết non.

Người Tuổi Kỷ Hợi, mạng Bình Địa Mộc rất kỵ Kiếm Phong Kim, nhưng hợp với Kim Bá kim vì loại Kim này làm cho Mộc xanh tươi nõn nà.

ĐẶC ĐIỂM CỦA NĂM HỢI

1/ Về tử vi, HỢI đứng thứ 12 trong vòng Hoàng Đạo, ký hiệu của chân thật. Giờ Hợi tương đương với giờ Tây phương là từ 9 giờ tối đến 10:59 đêm; tháng Hợi tương đương với tháng 11 Dương Lịch, tuổi Scorpio (Bọ Cạp).

2/Nhân Cách Người Sinh Năm Hợi

Người tuổi Hợi nói chung, thường chân chất, hiền lành và chu đáo. Với dáng bộ dễ dãi, vui tính, tuổi Hợi làm cho những người mà họ gặp gỡ tươi cười và phấn khởi. Bản chất chân thành, lương thiện, tuổi Hợi luôn mong muốn người khác cũng thành thật như mình. Điều này góp phần tạo nên một sức lôi cuốn đặc biệt nơi tuổi Hợi, tuy nhiên nó cũng khiến cho tuổi Hợi trở thành ngây ngô trong những lúc phải đối phó với người khác.

Tuổi Hợi luôn luôn sẵn sàng hy sinh thời giờ, tiền của để giúp đỡ người gặp khó khăn bởi vì sự độ lượng. Đôi khi bị người khác lợi dụng lòng tốt của mình, nhưng tuổi Hợi hiếm khi nhìn bằng con mắt xấu, thường cho người ta cơ hội thứ hai để tự mình điều chỉnh.

Người tuổi Hợi thường có thể nhờ cậy được và rất đáng tin tưởng. Tự bản chất, tuổi Hợi thường thích “cho” hơn “nhận” và luôn luôn cảm thấy hạnh phúc khi chia sẻ – mặc dù cho và nhận thường hoạt động hai chiều qua lại, nhưng tuổi Hợi không nhận thấy rằng có người khác sở hữu nhiều hơn mình và không mong cầu sự đền đáp sự chia sẻ trở lại.

Người tuổi Hợi từ thâm tâm thích an nhàn và lạc thú, quý trọng những điều tốt đẹp trong cuộc đời và ưa chuộng một lối sống dễ dãi, đầy tiện nghi vật chất…

Tóm lại, có thể nói tuổi Hợi có sáu đặc điểm sau đây: *Ngây thơ *Duy vật* Nông cạn*Bướng bỉnh (Pigheadedness)*Cả tin (gullibility) và *Lười biếng.

3/ Về Vận Khí:

Những năm KỶ thường có vận khí “Thổ bất cập, Mộc khí thừa thế vươn lên. Mộc thịnh lại hóa Hỏa. Về bệnh lý: phong chứng phát sinh. Thời khí này làm cho con người cảm thấy mình nặng, bụng đầy, da thịt máy giật, tính hay cáu giận (bởi vì Thổ hư nên Thủy làm càn). Cách chữa theo Đông Y: Bổ Tỳ Bình Mộc.

Thời tiết: Thổ bất cập, Mộc khí thừa thế lấn vào, sinh ra gió to; Mộc khí thịnh cây cỏ tốt tươi, nhưng vì Thổ khí bất cập nên tuy cây xanh tốt mà quả lại ít. Trên thì khí quyết âm gia lâm, dưới thì khắc tướng Hỏa, nước không thành băng, sâu bọ thấy Hỏa thì ẩn sâu xuống đất cho nên Thủy không có tác dụng và Kim không đáp lại được, gió lớn, mưa ít.

NĂM HỢI VÀ CHUYỆN HEO

Trước khi đi vào chuyện Heo, tưởng cũng nên tìm hiểu xem tương quan giữa từ ngữ Heo và Lợn. Người miền Bắc Việt Nam dùng từ LỢN và người miền Trung và Nam Việt Nam thì dùng từ Heo để chỉ con vật bốn chân, loài có vú, da màu đen hoặc trắng nuôi trong nhà để ăn thịt, lấy phân chuồng để trồng trọt vân vân. Trong thơ văn, từ Heo thông dụng hơn từ Lợn. Chẳng hạn sách Lục Súc Tranh Công (thế kỷ XVIII) dùng từ Heo, chứ không dùng từ Lợn có lẽ vì tác giả (khuyết danh) là người miền Trung. Các truyện ngụ ngôn truyền miệng thì dùng từ Lợn, như Trạng Lợn, Con Gà, Con Lợn và Con Chó…

Trong tục ngữ và ca dao, từ Heo cũng thông dụng hơn. Một tác giả trên internet đã có một bài rất dí dỏm về hai từ ngữ Heo và Lợn trong dân gian Việt Nam, xin trích dẫn sau đây:

“Con lợn sinh ra ở miền Bắc

Con heo sinh ra ở miền Nam.

Miền Bắc không heo nhưng thích “nói toạc móng heo”

Miền Nam không lợn nhưng lại thích ăn “bánh da lợn”

Miền Bắc có lợn sề, lợn nái, lợn giống, lợn cấn, lợn sữa, lợn choai, lợn thoáu, lợn ỷ

Miền Nam có heo nhà, heo ruộng, heo bong, heo lang, heo cỏ, heo bò, heo đen, heo nọc, heo hạch, heo nái, heo nưa, heo lứa, heo mọi.

Con lợn ăn ngô,

Con heo ăn bắp.

……………………….

Con lợn đóng phim thiếu nhi “hiệp sĩ lợn”

Con heo đóng phim người lớn “phim con heo”.

Phim con lợn chỉ cách chăn nuôi, sinh sản cho nhi đồng,

Phim con heo cũng chỉ cách sinh sản nhưng lại cấm nhi đồng.

Miền Bắc chê cô kia “béo như lợn”

Miền Nam quở chị nọ “mập như heo”.

Không tìm được nguyên ngữ (Etymology) của chữ Lợn. Trong các ngôn ngữ như Latin, Anh, Pháp không có chữ nào có phụ âm “L” gần với chữ Lợn, nhưng có phụ âm “H” gần với chữ Heo như trong tiếng Anh, có chữ “hog” chỉ con heo, nghĩa bóng chỉ “người tham ăn, thô tục”(Swine=heo, Pig=Heo, thịt heo) Lưu ý chữ Pig còn có nghĩa là đầu xe lửa, thoi kim loại.

Do đó, có thể nói Heo và Lợn đều chỉ “một động vật thuộc loài có vú, có móng, nuôi trong nhà có tên sinh học là Sus Scrofa domesticus thuộc họ Suidae, tiếng Latin là Porcus, tiếng Pháp là PorcCochon (heo đực), heo cái là la Truie hay Coche. Nhưng người miền Bắc Việt Nam gọi là “lợn” và người Trung và Nam gọi là “Heo” không khác nhau về đặc điểm.

HEO (LỢN) TRONG ĐỜI SỐNG VÀ VĂN HÓA

Từ Á sang Âu, nhiều dân tộc nuôi heo trong nhà để ăn thịt hoặc để làm bạn, làm cảnh (Mỹ). Trong đời sống con người, heo là nguồn cung cấp thịt gần như chủ yếu, bởi vì trong nấu ăn thường cần chất mỡ. Ngoài ra hầu hết các bộ phận của heo thịt đều có thể sử dụng để chế biến rất nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng từ đầu, cổ (nọng) chân (giò) đến lòng(tim, gan, cật, phèo phổi, ruột, óc, huyết) và da… [Báo chí Cộng sản Việt Nam thay chữ “lòng heo” bằng chữ “nội tạng” của y khoa, “cháo lòng heo” thành “cháo nội tạng heo” nghe rùng mình, tởm lợm!]

HEO HIẾN TẾ

Tại Việt Nam:

Heo có một vai trò khá quan trọng trong một số nghi lễ dân gian và nghi thức cúng bái thần linh.

Heo là vật dâng cúng, hiến tế phổ biến cho cả thần linh và tổ tiên. Tại một số địa phương tập tục hiến tế heo (lợn) lên thần linh rất long trọng. Heo hay lợn hiến tế được tôn vinh là “Ông” (tại Võ Giàng – Bắc Ninh); gọi là “Ông Ỉ” (tại La Phù. Hoài Đức, Hà Tây); gọi là “Ông Đô” (tại Vĩnh Tường, Vĩnh Yên). Heo tế được chăm sóc đặc biệt, được đưa đến nơi hiến tế bằng một đám rước với những nghi vệ trang trọng.

Rước Lợn tại làng La Phù, nay là xã La Phù, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây được TỪ ĐỊỂN HỘI LỄ VIỆT NAM (cửa Bùi Thiết) mô tả như sau: “mở đám hội lễ tại đình để tế thần Thành Hoàng là Tỉnh Quốc Tam Giang, Ngoài các nghi lễ truyền thống thì Rước Lợn là nét đặc sắc nhất của Hội làng La Phù. Để chuẩn bị cho hội lễ, theo truyền thống 6 giáp chọn 6 gia đình có đủ mọi tiêu chuẩn nuôi lợn, làm sao đến kỳ hội lợn đạt tiêu chuẩn của làng. Vào ngày lễ hội, các gia đình nuôi lợn làm lợn tế chu đáo như dựng chống khiêng lễ, dọn bàn rước hương hoa, mâm bày bánh trái, che oản…”(sđd, trg 273).

Lễ Rước Lợn bắt đầu từ khoảng 6 giờ chiều, khi những chiếc đèn lồng nhiều màu sắc được thắp sáng khắp đường làng, ngõ xóm thì kiệu lợn được rước ra đình. Theo lệ làng, xóm gần đi trước, xóm xa đi sau. Đội rước được sắp xếp theo trình tự: Đi đầu là hai lá cờ ngũ hành lớn, tiếp theo là ban nhạc kèn trống và múa lân, rồi đến bàn thờ với đủ các thứ đồ thờ như cặp đèn, lư trầm, bát nhang, ống hoa, mâm ngũ quả, chè, xôi (oản) cuối cùng là kiệu Ông Lợn được khiêng bởi các thanh niên tráng kiện, đức độ được tuyển chọn trong làng.

Các dân tộc miền núi Trường Sơn và Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam, có tục “cúng sống” gọi là “Buôi hất”. Con lợn tế được cắt tai để lấy máu trộn vào lúa giống, bôi vào các nông cụ, hoặc nhỏ máu lợn xuống đất ngay tại rẫy, đồng thời đập vào mình heo cho chúng kêu to để mời thân linh về dự lễ hiến tế. Cúng Heo sống là tục của người Katu.

Người Mnông cúng rừng thường có con heo nặn bằng đất rừng đặt bên cạnh con heo sống. Khi cuộc lễ bắt đầu, chủ làng dùng ống tre lô ô vót nhọn đâm vào tin heo tế để lấy máu tưới vào miệng heo đất và đọc lời khấn nguyện Thần Đất, Thần Rừng, Thần Sông, Thần Suối của bản làng mời “đồng lai cộng hưởng”.

Trong văn hóa Việt Nam, heo có một vai trò khá quan trọng trong một số tập tục như Tế Nam Giao, đám ma, đám cưới, ăn mừng thi đỗ, hòa giải xích mích trong gia đình làng xóm. Heo cũng dùng trong các tế lễ nông nghiệp cầu được mùa, cầu phúc và cúng tiêu họa trừ tai ương.

Sách Luc Súc Tranh Công đã ghi rõ những lễ lạc và những vụ việc xã hội cần sự “có mặt” của Heo.

Vua ngự lễ Nam Giao đại đột

Phải có heo mới gọi tam sanh,(*)
Đừng đừng quen lời nói lanh chanh,
Bớt bớt thói chê ai ăn ngủ,
Kìa những việc hôn nhân giá thú.
Không heo ra, tính đặng việc chi?
Dầu cho mời năm bảy chuyến đi,
Cũng không thấy một người thấp thoáng.
Việc hòa giải, heo đầu công trạng,
Thấy mặt heo nguôi dạ oán thù.
Nhẫn đến khi ngu phụ, ngu phu,
Giận nhau đánh giập đầu, chảy máu.

Làng xã tới lao đao, láu đáu,
Nào thấy ai gỡ rối cho xong,
Khiêng heo ra để lại giữa dòng,
Mọi việc rồi liền xong trơn trải

Phải chăng, chẳng phải,

Nghĩ lại mà coi

Việc quan, hôn, tang, tế, vô hồi

Thảy thảy cũng lấy heo làm trước.
Bởi gà nhỏ nói lời lấn lướt,
Nên phải phân ít chuyện mà nghe.
Dễ heo nào có dạ dám khoe ?
Khắn khắn cũng lo làm việc phải.
Heo cũng biết đền ơn báo ngãi,
Heo cũng hay tiêu họa, trừ tai,
Toái thân phấn cốt chi nài ?
Nát thịt tan xương bao quản ?
Lòng thờ chủ ngay đà tỏ rạng.
Thân mình này ví bẵng như không.”(Lục Súc Tranh Công)

Theo Điển lệ chính thống của triều đình, trong các lễ Tế quan trọng, có ba con vật hiến tế gọi là bộ “Tam Sinh”(hay Tam Sanh) gồm Heo, Bò và Dê hoặc Heo, Trâu, Dê. Bộ Tam Sinh này từ nguồn gốc xưa gọi là “hy sinh”.  “Hi” là loài thú có lông toàn sắc đen hoặc trắng, hoặc nâu, không lai tạp, dùng để tế thần.

Theo điển lệ, bộ ba con vật hiến tế trong các lễ trọng Thái Lao, là bộ “Tam sinh”: heo, bò/ trâu, dê. Trong dân gian biến tướng của bộ ba lễ vật này gọi là “Tam sinh”, gồm một miếng thịt, quả trứng và con tôm… cũng được gọi là đủ lễ. Còn theo điển lệ, bộ Tam sinh, gốc xưa gọi là “hy sinh/sanh” là loài thú tuyền (toàn) sắc, không lai tạp dùng để cúng tế thần. Ngày nay từ “hy sinh” có nghĩa khác. Trong văn tế chữ Hán tên các con vật dùng để hiến tế được gọi bằng đặc ngữ: trâu gọi “Nhất nguyên đại võ”, bò: “Hoàng mao”, heo: “Cang lạp”, heo con: “Đột phì” và Dê “Nhu mao”…

Về nguyên tắc các nơi thờ tự các bậc thần đế vương hay công thần phải tế “Tam sanh”. Ở đình làng, lễ tế chính (hàng năm hoặc ba năm đáo lệ) cũng tế theo điển lệ chính thống, nhưng ít nơi dâng cúng đủ bộ “Tam sanh” mà thường là dùng heo (Cang lạp) làm lễ phẩm, trừ một số nơi có lệ phải dùng trâu/ bò.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy, Cỗ Tam Sinh gồm Bò (hoặc Trâu), Heo và Dê trong lễ tế Thần cũng “thể hiện triết lý, triết học phương đông, đó là âm dương ngũ hành, những yếu tố tạo nên muôn vật.”(sách Văn Hóa Tâm Linh, NXB Hà Nội -1996, trg 99).

Related image

Theo Nguyễn Đăng Duy, trâu (bò), lợn thuộc Âm, số 2; thịt Dê thuộc Dương, số 1. Xôi-Gà – Xôi thuộc thổ, âm, Gà dương…

Ở các vùng duyên hải, lễ vật biểu tượng Âm, Dương trong “tam sinh” đổi thành thịt heo, trứng, tôm cua, ốc. Thịt (dương), Ốc (âm), Trứng (vừa âm vừa dương); Cua (âm), Tôm (dương). (sđd, trg 99).

Về cỗ thịt lợn (heo) nhiều nơi vì điều kiện kinh tế, không thể cúng cả con heo, thì có thể cúng cái đầu heo và đuôi heo (thủ – vĩ) tượng trưng rồi thêm con gà, mâm xôi.

Về phẩm vật “Tam Sanh”, dân gian miền Nam Việt Nam gọi là “Tam Sên”.

“Bộ Tam Sên” thường được dùng trong các lễ cúng quan trọng như Thổ Thần, Tài Thần, Khai Trương, Động Thổ. Nhưng về phẩm vật thì đã thay đổi, không còn là “heo, bò, dê” nữa mà được thay vào một miếng thịt heo (thịt ba rọi), ba hoặc năm con tôm (hoặc cua) và một cái trứng vịt.

Image result for bộ tam sên cúng thần tài

Có người cho rằng Tam Sên ở đây đại diện cho ba loài vật sống trên đất, dưới nước và trên trời đó là heo (thổ), tôm cua (Thủy), Vịt (thiên). Ngày nay, có nơi cúng cá và cua thay cho tôm cua.

PGS.TS. Phan Thị yến Tuyết – ĐH KHXH-NV-Pp HCM giải thích rằng: “Tam sên: là 3 loài vật tượng trưng cho Thổ – miếng thịt heo (sống trên cạn), Thủy – con tôm hoặc cua (sống dưới nước), Thiên – trứng gà hoặc trứng vịt (đại diện loài có lông vũ bay trên trời, và lí do người ta dùng trứng là để biểu trưng cho tính phồn thực)”.

Cách giải thích này xem ra không ổn, bởi vì Heo không thể tượng trưng cho Thổ, Tôm, Cua không đủ tư cách đại diện cho Thủy tộc (vì sống chỗ nước cạn, có bùn đất) còn Vịt (cái trứng vịt) không thể đại diện cho loài bay trên trời (Vịt nhà bay rất thấp và không thể bay xa như vịt trời). Ngoài ra: trứng vịt không thể biểu trưng cho phồn thực. Bởi vì “phồn thực” có nghĩa là “sinh sản để duy trì nòi giống” thường tượng trưng bằng các bộ phận sinh dục của con người, trong lúc vịt đẻ trứng rồi giao phó cho thiên nhiên, không ấp để nở ra con vịt. Lý giải như vị giáo sư trên không đúng với thực tế nên không thuyết phục.

Người Trung Hoa thường dùng cả con heo quay để cúng thần linh. Tập tục này có phần tiện lợi cho gia chủ. Nhưng ở Việt Nam, có những nơi không được cúng heo quay, chẳng hạn như tại Mộ Tướng Võ Tánh tại Bình Định, bởi vì Tướng Võ Tánh và Lễ Bộ Tham Tri Ngô Tùng Châu đã tử thủ và chết thiêu cùng thành Bình Định.

ĐẦU HEO – THỦ LỢN VÀ ÔNG TIÊN CHỈ

Trong các lễ tại đình làng, tại nhà thờ họ, cỗ toàn con heo gần như bắt buộc (tùy theo số người tham dự mà mổ lợn). Miền Bắc gọi là “mổ lợn” miền Trung và Nam gọi là “hạ heo” hoặc “làm heo”.

Sau khi cúng tế, cái đầu heo  (thủ lợn) được dành biếu ông “tiên chỉ”, cái nọng heo (cổ) dành cho ông “thứ chỉ” trong làng hoặc trong họ. [Tiên chỉ là ngôi thứ cao nhất trong làng, nều xếp theo “thiên tước” thì người cao tuồi nhất, còn theo “nhân tước” thì người có phẩm hàm, khoa bảng cao nhất.]

“Tiên chỉ” nghĩa đen là “chiếu trên” tức là mâm cỗ trên dành cho người có chức sắc, danh phận, thịt và rượu phong phú hơn “mâm dưới dành cho những người có ngôi thứ thấp hơn.

HEO ở Hy Lạp và Một Số Nước Tây Âu Châu

Nước Hy Lạp thời cổ đại, heo là vật hiến tế nữ thần Demeter (Thần Đất, Nữ Thần Nông Nghiệp). Thần nầy rất yêu thích con heo. Heo nái là biểu tượng của chức năng sinh sản, bản nguyên của nữ giới tương ứng với nguyên lý Mẹ Đất (Mother Earth).

Trong huyền thoại Tây Âu, có CON HEO THÁNH (Sacred Pig).

Heo trong mọi hình thái, từ heo rừng đến heo nuôi trong nhà đều là những hình ảnh vô cùng mâu thuẫn trong huyền thoại, nó có tính cách thiêng liêng trong một số bối cảnh và có tính cách yêu quái trong một số hoàn cảnh khác hoặc là cả hai tính cách được sùng bái và bị xa lánh cùng một lúc (như trong cách kể truyện một cách nghịch lý thường nghe).

Con heo được xem như con vật thiêng liêng dường như thuộc về những nữ thần trong tín ngưỡng sơ khai theo đó sự hiểu biết của chúng ta khó mà hoàn hảo được. Thế nhưng, những tác phẩm điêu khắc, chạm trỗ và những đồ tạo tác, các tượng giả (artifacts) được tìm thấy khắp nơi, tại các vùng bây giờ gọi là Tây Âu châu, chỉ ra rằng con heo là một hiện thân của Đại Nữ Thần (Great Goddess) liên kết với sự sinh sản, sự phì nhiêu, mặt trăng và các chu kỳ của sinh và tử.

Sách Zoologies của Alison Hawthorn Deming giải thích rằng “Quá trình heo thuần hóa nuôi trong nhà đã bắt đầu tại lưu vực sông Tigris Basin mười ba ngàn năm trước; tại Cyprus và Trung Hoa, mười một ngàn năm trước. Những tượng điêu khắc về heo đã được khai quật tại Hy Lạp, Nga, Yugoslavia và Macedonia.

Marija Gimbutas, trong tác phẩm The Goddess and Gods of Old Europe, cho rằng sự tăng trưởng nhanh chóng của thân thể heo có lẽ đã được so sánh với sự mọc và chín của cây bắp (ngô), do đó chất mỡ mềm của heo dường như đã đưa tới sự tượng trưng cho đất và khiến cho heo trở thành con vật thiêng liêng vào thời kỳ khoảng năm 6,000 trước Tây Lịch. Vị nữ thần của thực vật, trồng trọt đôi khi mang mặt nạ hình heo. Đôi khi hình tượng heo, mập mạp, no tròn được khắc họa với những dấu vết của những hạt ép vào đất sét hoặc được trang điểm với hoa tai.

Nữ thần của trồng trọt thời tiền sử có nguồn xa xưa tận thời Neolithic (Thời Đồ Đá mới) và là tiền nhiệm của Demeter, nữ thần Hy lạp của sự phì nhiêu và thu hoạch, mà đền thờ tại Eleusis được xây dựng vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch.

Image result for Nữ thần DemeterTheo Deming, “Những Huyền bí vùng Eleusis đã trở thành nghi lễ tôn giáo chính của Hy Lạp cổ đại, bắt đầu vào khoảng 1600 BC. Từ nguồn gốc, trong một lễ dâng cúng bí mật dành cho thần Demeter, các nghi thức vinh danh chu kỳ chết và tái sinh hàng năm của hạt giống trong những cánh đồng. Sự sống lại của những hạt giống chôn trong lòng đất đã gợi lên sự tin tưởng rằng có sự tương đồng giữa sự sống lại của những thân xác được yên nghỉ trong lòng đất. Những nghi thức tôn giáo của Huyền Bí Eleusis đã kéo dài hai ngàn năm, đã trở thành tín ngưỡng chính thức cùa quốc gia Hy lạp và lan truyền đến La mã. Những huyền bí này đã đặt nền tảng cho đức tin Thiên Chúa giáo vào sự phục sinh. Vào thế kỷ thứ Tư CE (Common Erea) Hoàng đế La Mã đã hoàn toàn lật đổ tin tưởng này.

Nữ thần Demeter chủ về sự phì nhiêu của đất đai và mùa màng.

Hình tượng bầy heo đang bú mẹ đóng một vai trò chủ chốt trong lễ hội Thesmophoria, một nghi thức – ba ngày cử hành vào tháng October, thời điểm gieo hạt mùa thu cho lúa mạch và lúa mì mùa đông. Trong các truyện có sau giai đoạn huyền thoại cổ điển, heo xuất hiện trong một số truyện kể về anh hùng: không giống như loài vật thiêng liêng mà là một quái vật cần phải giết đi. Chẳng hạn, Thesues giết con heo Crommyonian đang tàn phá vùng quê gần Crommyon. Đây không phài là một con heo thường, mà chính là đứa con gái của Echidna (người đàn bà-rắn) và Typhone (đứa con trai quái vật của Gaia), tên này được đặt theo tên của người đàn bà đã nuôi nó. Heo Crommoyonian Sow, sau đó là mẹ của Heo rừng Calydonian do thần Artemis gửi tới để trừng phạt vùng đất Calydon, là nơi mà nhà vua đã xao nhãng những nghi lễ cúng các thần. Con heo rừng ấy bị giết trong một cuộc đi săn nổi tiếng của hoàng tử Meleager được nữ thần Atlanta hỗ trợ (bởi những lý do phức tạp).

Heo cũng xuất hiện trong suốt cuộc hành trình The Odyssey: Odysseus là vua của xứ Ithaca, một hòn đảo nổi tiếng về đất nông nghiệp và những đàn heo cái mập mạp. Odysseus là con trai của Laertes và Argonaut người đã tham gia cuộc đi săn Heo rừng Calydonian. Trên hành trình dài về quê nhà từ cuộc chiến Thành Troy, Odysseus đã chạm trán với nữ phù thủy Circe, bà này đã biến những quân nhân của Odysseus thành heo cái (và các con vật khác) rồi sau đó bà ta đem lòng yêu Odysseus và phóng thích hết đoàn người khỏi bùa mê. Cuối cùng khi Odysseus về tới Ithaca, ông ta ẩn mình trong nhà người chăn heo của ông trong khi xem xét tất cả những gì đã mất đi trong thời gian ông vắng mặt và tại đó, giữa những con chó và heo, ông ta gặp lại con mình Telemachus.

Trong chuyện cổ tích Tây phương, những người chăn heo đều trở thành hoàng tử cao sang. Heo đôi khi được xem ngang hàng với con người. Thủ tướng Anh Winston Churchill (1874-1965)nói “I like Pigs. Dogs look up to us. Cats look down on us. Pigs treat us as equals” (Tôi thich con heo. Con chó thì ngước lên nhìn chúng ta. Con mèo thì nhìn xuống chúng ta, còn con heo thì coi chúng ta là ngang hàng.”

Image result for lợn hiến tế

Tại Hoa Kỳ, có nhiều trường học dùng hình heo làm biểu tượng, đặc biệt tại Đại Học Arkansas, đội thể thao của trường lấy biểu tượng là con heo rừng (lợn lòi=Sus scrofa).

Ngoài ra, còn có “Con heo khốn nạn” xuất hiện một cách cùng khổ trong các huyền thoại Trung và Cận Đông, bao gồm cả những vùng theo giáo phái Abraham ( tức là tin vào lời tiên tri Abraham gồm Judaism, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo), tại những nơi này Heo được xem là con vật không sạch sẽ và là sinh vật ô uế trong Do Thái giáo, Hồi giáo và những câu chuyện dường như thuộc Thiên Chúa giáo. Có khuynh hướng quy chiếu sự sa đọa của con heo khỏi ân sủng với những bí mật của người đàn bà. Từ đây heo bị cấm kỵ trong các nghi lễ dâng cúng thần linh cùa các nhóm này. Heo và chó không được đến gần các đền thờ.

Kinh Qur’an của Hồi giáo cấm tín đồ ăn thịt heo. Luật Kashrut cấm người Do Thái ăn thịt heo. 

Heo trong Phúc Âm (Thiên Chúa giáo)

Trong Phúc Âm, Luca, có dụ ngôn “Đứa con hoang đàng”. Chuyện kể rằng, một người con xin cha chia phần gia tài cho mình rồi mang đi. Anh ta chỉ biết ăn chơi, phung phí để hưởng thụ. Cho đến một ngày hết sạch tiền của, lại gặp lúc khó khăn, không biết lấy gì để sống, bèn đi tìm việc làm, nhưng chỉ được thuê chăn heo. Lúc đói quá, anh ta muốn ăn đồ ăn của heo mà cũng không ai cho. Khổ quá, anh nghĩ đến việc quay về nhà, xin lỗi người cha… và được cha đón nhận.

Chuyện thứ hai, chúa Giê-su đã làm phép biến những con quỷ ám ảnh người hòa  vào một bầy lợn.

“Khi Đức Giê-su sang bờ bên kia, và đến miền Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy.

29 Chúng la lên rằng: “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao? “ 30 Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31 Bọn quỷ nài xin Người rằng: “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia.” 32 Người bảo: “Đi đi! ” Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33 Các người chăn heo chạy trốn vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám” (Lời Chúa Mt8 28-34 – Facebook Những người công giáo Việt Nam). 

Tại Pháp

Cho đến ngày nay, nông dân Pháp vẫn còn tập tục gọi Heo bằng “Monsieur”(Ông). Jean-François Blaise, à Chanceaux viết trong bài “La revanche de Monsieur cochon”: “Autrefois, quand on parlait d’un cochon, on l’appelait « monsieur ». « C’est un beau monsieur », disait-on avec respect en affûtant le couteau: Ngày xưa khi nói về một con heo, người ta gọi là “ông”. “Đó là một ông tao nhã”, họ nói với sự kính trọng khi thọc con dao vào…”

Vùng Normandie gọi heo là “le noble” (nhà quý phái), ở Lorraine gọi bằng từ “le mignon”(cưng) hoặc “le camarade” (ông bạn). Người ông thôn Pháp rất ít dùng chữ Cochon để gọi heo. Theo Blaise, ngày nay “cochon” đã trở thành “porc” và sự trượt dốc ngôn từ này tương ứng với một thực tế đáng buồn. “Porc” là một sản phẩm công nghệ hóa, nuôi không đúng cách – công nghệ không cần bận tâm đến sự thoải mái của con vật và môi trường sống… trong khi “cochon” là một con vật có thiện cảm, hấp dẫn và ngon lành.”

Thế nhưng trong ngôn ngữ, từ “cochonnerie” lại chỉ “sự bẩn thỉu”(saleté) cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tất cả những gì phẩm chất xấu (mauvaise qualité), tiếng Pháp gọi là “cochonnerie” (se nourrir de cochonneries = nuôi sống bằng những cái tầm thường, bẩn thỉu); Cochonnerie cũng chỉ những đồ vật không có giá trị, không vững chắc. “Cet appareil est une cochonnerie, il est toujours en panne = Cái máy này là đồ tồi, nó luôn luôn bị đứng). “Dire des cochonneries” nghĩa là nói những chuyện tục tỉu, chuyện nhảm nhí (Obscène).

Trong loạt Truyện Kinh Dị Mỹ (American Horror Story), phim “Monsieur le Porc” (Piggy Piggy) là tập thứ 6. Phim “Monsieur le Porc” không liên hệ đến thiện cảm của nông dân Pháp đối với Heo.

Jean-Marc Veszley đặt câu hỏi “Phải chăng heo sẽ là tương lai của con người?” và nói thêm “Sans doute, le porc deviendra-t-il demain parfait donneur d’organs pour l’homme”(Hiển nhiên, ngày mai heo sẽ trở thành ân nhân hoàn hảo hiến tặng tạng phủ cho con người.) Báo Le Soir illustré.

Tại Trung Hoa

Một bộ lạc không thuộc người Hoa đến từ Mãn Châu (Manchuria) đã cai trị một vùng rộng lớn phía Bắc Trung Hoa giữa năm 916 và 1122 được xem là đã có cái đầu con heo, chính vì lý do này mà dân tộc Kitan không được ăn thịt heo.

Người đạo Hồi cũng không ăn thịt heo theo lời dạy của kinh sách. Bởi vì thần Xuan-tan là một người thuộc Hồi giáo, cho nên không được dùng heo để dâng lễ cho ngài. Trung Hoa có tục lệ con gái không nên ăn móng giò heo, bởi vì nó gợi ý tưởng đang mang thai. Nhưng phụ nữ mang thai thì được cho ăn thứ này vì cho rằng nó bổ dưỡng cho cả mẹ lẫn bào thai.

Trong ngôn ngữ Trung Hoa “Ăn heo quay” là ẩn dụ của việc giao cấu tình dục.(Theo A Dictionary of Chinese Symbols-Wolfram Eberhard )

HEO “TRƯ BÁT GIỚI”

Trong huyền thoại Trung Hoa có nhân vật “Trư Bát giới” với hình dạng đầu heo mình người, một trong ba người theo Đường Tăng qua Tây Phương thỉnh kinh Phật về Trung Hoa.

LÝ LỊCH TRƯ BÁT GIỚI

Bản thân là Thiên Bồng Nguyên Soái tại Thiên Đình, chỉ huy hơn tám vạn thủy binh. Thiên Bồng có 36 phép thần Thiên Cang Địa Sát của Lão giáo, có khả năng biến hóa, điên đảo âm dương, hô phong hoán vũ, giá vụ đằng vân, di sơn đảo hải… Bản tính háo sắc, tham ăn, lười biếng, hay ganh tị…

Image result for TRƯ BÁT GIỚI

Trong một đại tiệc ở Thiên Đình hội tụ đủ mặt các chức sắc thượng giới, Thiên Bồng nhìn thấy Hằng Nga và bị hút hồn bởi sắc đẹp. Trong cơn say rượu, Thiên Bồng đã tán tỉnh và sàm sỡ Hằng Nga. Nàng tấu với Ngọc Hoàng và Thiên Bồng bị phạt đày xuống hạ giới và chẳng may đầu thai vào loài heo với thân người đầu và mặt heo. Người mặt heo này vẫn còn phép thuật nên thường đi quấy phá người hạ giới. Một hôm, Đường Tăng và Tôn Ngộ Không ghé vào trang trại gia đình họ Cao, thì được biết con gái lớn của gia đình này vừa bị bắt đi. Kẻ bắt người còn để lại lời nhắn xin cầu hôn. Tôn Ngộ Không liền dùng kính chiếu yêu tra xét và biết được thủ phạm là người mặt heo nên lập kế vây bắt. Quả nhiên người mặt heo xuất hiện và đánh nhau với Tôn Ngộ Không.

Phép thuật người mặt heo không địch nổi Tôn Ngộ Không. Cuối cùng, người mặt heo nhận ra rằng Tôn Ngộ Không là đồ đệ của Đường Tăng, người mà Phật Quán Thế Âm đã sai người mặt heo, pháp danh Trư Ngộ Năng theo phò tá trên đường đi thỉnh kinh để chuộc lỗi đã gây ra. Đường Tăng đặt tên cho người mặt heo là Trư Bát Giới hàm ý: phải giữ Tám hạn chế trong đời sống để tu tập, đó là 1/ không tham ăn, 2/không háo sắc, 3/không tham lam của cải, 4/không nói dối và lừa gạt, 5/không đố kỵ, 6/ không ham nhàn hạ, 7/ không sợ khổ, sợ khó, 8/không tham công lao.

Pháp danh Ngộ Năng có nghĩa là hướng về công năng, thuộc hữu vi, cần cho cuộc hành trình qua Tây Thiên thỉnh kinh Phật. Trư Bát Giới rất ghen tị Tôn Ngộ Không, thường bịa chuyện thưa lại với Đường Tăng, để hạ bệ Ngộ Không.

Pháp danh ba đồ đệ của Đường Tăng đều có chữ “Ngộ”: Ngộ Không, Ngộ Tĩnh, Ngộ Năng. Ngộ Không, Ngộ Tĩnh… cuối cùng đều thành Phật hoặc La Hán, chỉ Ngộ Năng là không thành Phật vì vẫn chưa dứt trọn sự ham muốn, do đó được cử làm “Tịnh đàn sứ giả” giữ việc chăm sóc bàn thờ…

TRANH VẼ HEO, LỢN

Ngày Tết Nguyên Đán, dân Việt có tục mua tranh Tết vẽ Heo và Gà về treo trong nhà. Tranh Heo và Gà tượng trưng cho sự sinh sản và phát đạt. Hình ảnh béo tốt, mập mạp của Heo đối với người Việt (và cả người Hoa) là biểu tượng của sự sung mãn và sinh sản dồi dào. Heo biểu trưng cho sự sung mãn và sinh sản đông đúc .

Related image

Về mặt vật chất, trong một số gia đình, nuôi heo như một cách để dành tiền vì có thể dùng nước vo gạo, cơm thừa cá cặn làm thức ăn, ít tốn kém mà lại có lời to, ngoài ra còn lấy phân để bón vườn, bón ruộng. Từ sự kiện “nuôi heo để dành tiền” dẫn tới con heo làm bằng đất nung, bằng sứ dùng để bỏ tiền tiết kiệm mà để dành…

Do đó, con heo trong các gia đình nông thôn Việt Nam rất thực tế và gần gũi. Nhìn chuồng heo là có thể biết kinh tế nhà đó khá hay nghèo.

Thịt heo là một thực phẩm quen thuộc và gần như cần thiết hàng ngày của người Việt (cũng như rất nhiều dân tộc khác trên thế giới) bởi vì thịt heo có giá trị dinh dưỡng phổ biến.

Về mặt tinh thần heo hay lợn bị xem như là hình tượng của sự tham ăn, tham nhục dục  một cách lộ liễu và bẩn thỉu…

HEO TRONG VĂN CHƯƠNG, CHỮ NGHĨA VIỆT NAM

Tác phẩm nói rõ về heo nhất trong văn chương Việt Nam, đó là cuốn Lục Súc Tranh Công, một truyện ngụ ngôn bằng văn vần (thể văn tuồng và biến thể của thơ song thất lục bát) gồm 570 câu, chia làm 12 đoạn, tác giả không để tên nên giới nghiên cứu gọi là “khuyết danh” (thiếu tên chứ không phải vô danh). Nội dung mô tả cá tính, khả năng và nhiệm vụ của sáu con vật nuôi trong nhà (súc) mà tác giả muốn mượn để ám chỉ tình trạng tranh công, đòi danh của các hạng người  trong xã hội, trong làng xóm và cao hơn trong triều đình. Chưa có tài liệu chính xác về thời đại Lục Súc Tranh Công ra đời, tuy nhiên nếu căn cứ vào căn cứ vào thể văn và các từ ngữ thì có thể nói là tác phẩm này xuất hiện vào thế kỷ thứ XVIII (Đây là thời kỳ văn tuồng thịnh hành – Chúa Nguyễn đã vững vàng căn cứ Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam – Miền Bắc hay Đàng Ngoài, Vua Lê-Chúa Trịnh, nhiều anh hùng cát cứ bất bình, nổi loạn khiến nhân dân khốn khổ điêu linh.)  HEO ở đoạn thứ 12, từ câu 521 đến 566 tức 46 câu đã được trích trong phần nói về “heo hiến tế”.

Related image

Trong ngôn ngữ thường ngày, người ta thấy có nhiều thứ heo (nội địa) thường được nói đến như:

-Heo (lợn) nái: nuôi để sinh sản

-Heo nọc hay lợn giống: nuôi để giao phối với heo nái.

Lợn (heo) con,

Lợn (heo) sữa: dưới một tháng tuổi (trước khi cai sữa)

Lợn sề: Heo đã đẻ nhiều lứa.(nghĩa bóng chỉ người đàn bà sinh đẻ nhiều –nái sề)

Lợn ỷ: một giống lợn địa phương miền Bắc Việt Nam, có thit, ít mỡ, năng suất thấp.

Lợn cỏ: giống địa phương miền Trung Việt Nam, còn gọi lợn đê, lợn cắp nách, có thân nhỏ, èo uột, chậm lớn.

Heo mọi hay lợn mán: lai heo nhà và heo rừng, lưng cong, bụng ỏng, thông minh, thích sạch sẽ, nuôi thả tại các vùng cao nguyên miền Trung Việt Nam, nặng tối đa 10kg, thịt chắc.

Heo Mẹo: còn gọi là lợn Mèo, giống heo của người H’Mông, nuôi tại vùng núi các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, lao Cai. Yên Báy.

Heo bông hay Lợn Ba Xuyên: heo mình đen có đốm trắng xuất hiện tại vùng Ba Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, nặng tới 150kg, đẻ nhiều.

Lợn Móng Cái: xuất xứ tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, mình đen có đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi ở đầu, mõm trắng, sinh sản từ 10 đến 16 con một lứa.

-Mặt lợn: chỉ mặt mập núng nính những mỡ

-Ổ lợn: chỗ ở luôm thuộm, dơ dáy

-Lợn lòng: chỉ những ham muốn nhục dục trong lòng con người đứng trước sự khêu gợi của thân xác …”Con lợn lòng vùng dậy…”. [Phải chăng đây là “suy bụng người ra bụng heo”? Vì trong cuộc sống vật chất người và heo, lợn, có rất nhiều chỗ giống nhau, như thuộc loài “tạp thực” ăn đủ mọi thứ không chừa thứ gì, về cơ thể học, trái tim heo và tim người có nhiều tương đồng (Valve tim heo có thể thay cho tim người), về sinh lý thì nhu cầu tình dục vô hạn…Thế nhưng heo “động cỡn có thì” nghĩa là có chu kỳ khác với người, do đó dùng “con lợn lòng” để nói lên ham muốn nhục dục có lẽ là “oan cho lợn” đấy.!]

Trong ngôn ngữ Việt Nam, thành ngữ “Chuyện con heo” lại thường nói về chuyện nhục dục của con người (như phim con heo, không nói về loài heo mà là phim làm tình của con người.) chứ không phải chuyện ngụ ngôn về heo.

Heo mà không phải heo!

Địa Danh Mang Tên Heo:

Suối Heo (ở Xuân Lộc); Hàn Heo (ở Đồng Nai); Đồi Heo (bãi sau Vũng Tàu); Hang Heo (biển Nha Trang –xã Vĩnh Lương); Vịnh Con Heo (Pay of Pigs/ Bahia de Cochinos ở Cuba).

Hoa Cứt Lợn:

tên khoa học: Ageratum conyzoides, còn có tên “hoa ngũ vị”, “cây bù xít”, “cỏ hôi”Cây này là một vị thuốc Nam cổ truyền, có vị cay, đắng, tính mát; đi vào hai kinh Thủ Thái Âm Phế và Thủ Quyết Âm Tâm bào với tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, trục ứ, tiêu thũng. Chữa sốt cảm, sưng yết hầu, chữa viêm xoang mũi, chữa rong huyết thai phụ.

Trư Linh

Còn gọi Địa ô đào, một loại nấm mọc trên thân cây (xốp) hoặc dưới gốc, tên khoa học: polyprus umbelletus. Tính bình, ngọt nhạt, vào thận và bàng quang. Trị thủy thũng, trướng đầy, tiểu tiện ít.

Cá heo:

tiếng Anh là porpoise; sea-hog và dolphin. Một loại cá rất thông minh.

Heo dầu:

một bộ phận quan trọng trong máy nổ chạy diesel, tiếng Anh là “Inline Pumps”. Các thợ máy miền Nam Việt Nam gọi là con heo dầu.

Heo may: tên một loại gió se lạnh thổi vào đầu mùa Thu (tháng 7 âm lịch), tại miền Bắc Việt Nam. Khi có gió này không gian mang vẻ buồn, tâm hồn người bâng khuâng khó tả…Gió này thường làm cho heo bị bệnh. Có người cho rằng ngọn gió se lạnh đầu thu này heo hắt cuộn theo hương cỏ may trên đồng cỏ nên gọi là heo may (?).

Heo, Lợn Trong Ca Dao, Tục Ngữ:

Tục Ngữ

Lợn thả, gà nhốt

Lợn Tó, gà Trò (?)

Chăn lợn ba năm không bằng chăn tằm một lứa.

Lợn đói một năm không bằng tằm đói một bữa.

Nuôi lợn ăn cơm không nuôi tằm ăn cơm nhộng

Giàu nuôi lợn nái, lụn bại nuôi bồ câu.

Giàu nuôi lợn đực, khó nuôi lợn cái.

Lợn đực chuộng phệ, lợn sề chuộng chỗm.

“Giàu lợn nái, lãi gà con”
“Treo đầu heo, bán thịt chó.”

 

Gió heo may chẳng mưa dai thì bão giật
Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
Gió heo may mía bay lên ngọn

 

Đàn bà không biết nuôi heo, đàn bà nhác,

Đàn ông không biết nuột lạt, đàn ông hư.

 

-Nuôi con trai mà không dạy như nuôi lừa.

Nuôi con gái mà không dạy nuôi lợn:
“Dưỡng nam bất giáo như dưỡng lư
Dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư”

Cám treo, heo nhịn đói

Lợn ăn xong lợn nằm lợn béo

Lợn ăn xong lợn réo lợn gầy

Ca Dao

Cưới em anh nghĩ cũng lo
Con lợn chẳng có, con bò thì không

-“Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn
Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm.”
– Lái trâu, lái lợn, lái bò.

Trong ba anh ấy chớ nghe anh nào!

-Ai về chợ Vạn thì về,

Chợ Vạn có nghề cất rượu nuôi heo.
– “Ba bà đi bán lợn con
Bán đi chẳng được lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon ton”

-“Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem
Bây giờ lửa đã cháy lên
Lợn no, con nín, tòm tem thì tòm”

-“Cồng cộc bắt cá dưới bàu
Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo”

-“Bố chồng là lông con lợn
Mẹ chồng như tượng mới tô,
Nàng dâu mới về là bồ chịu chửi”

-“Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ụt ịt (ủn ỉn) mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”

(chỉ các thứ gia vị tương ứng với ba loại thịt)

-Bao nhiêu củ rím củ hà
Để cho con lợn con gà nó ăn.”

“Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ lườm mẹ nguýt mẹ bưng ngay vào
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.”

– Ngày thời vất vả ngoài đồng
Tối về thời lại nằm không một mình.
Có đêm thức suốt năm canh
Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò.”

– “Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon”

-“Mèo tha miếng mỡ xôn xao

Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!”

 

Chuột chù chê lợn rằng hôi!

Lợn mới trả lời:”Cả họ mày thơm!”

 

Ai đem cho mạ con heo

Để cho mạ phải vớt bèo cực thay!

-“Cô kia đi chợ Hà Đông
Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi
Anh đi chưa biết mua gì
Hay mua con lợn phòng khi cheo làng”

-“Tình cờ bắt gặp nàng đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
May xong anh trả tiền công
Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm…
Anh giúp đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đáp đôi tằm em đeo
Anh giúp quan tám tiền cheo.

Năm quan tiền cưới lại đèo buồng cau…

(giúp cả một lễ cưới)

-“Yêu nhau chả lấy được nhau
Con lợn bỏ đói buồng cau bỏ già
Bao giờ sum họp một nhà
Con lợn lại béo cau già lại non.”

-“Bởi vì con heo nên phải đèo khúc chuối,
Bởi vì con muỗi nên phải thả màn loan…

“Bói cho một quẻ trong nhà
Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên”

 

Em về thưa với mẹ cha
Bắt heo đi cưới, bắt gà đi cheo
Đầu heo lớn hơn đầu mèo
Làng ăn không hết, làng treo đầu đình
Ông xã đánh trống thình thình
Quan viên níu áo ra đình ăn cheo

 

Mẹ ngồi thách cưới:

Tiền chẵn năm quan

Cau chẵn năm ngàn

Lợn béo năm con

Áo quần năm đôi

 

Bao giờ gạo gánh đến nhà

Lợn kêu en éc mới là vợ anh

 

Bà già lật đật mua heo cưới chồng
Cưới về chồng bỏ chồng dông
Bà già mới tiếc ba mươi đồng mua heo

 

Còn duyên anh cưới ba heo
Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi.

Gió heo may lành lạnh thổi về

Thương người quan ải lòng tê tái sầu.

 

Lòng vả cũng như lòng sung

Một trăm con lợn cũng chung một lòng.

 

-Em về nhắn với mẹ già

Mua heo ai thì trả lại kẻo trường ba hỏng rồi!

 

Heo trong thơ Nguyễn Khuyến:

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu

Lụt lội năm nay bác ở đâu?

Mấy ổ lợn con rày lớn bé

Vài gian nếp cái ngập nông sâu?

(Bài Nước Lụt Hỏi Thăm Bạn)

HEO trong Sấm Trạng Trình:

“Chó kêu ầm ĩ mùa đông

Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi

Lợn kêu tình thế lâm nguy,

Quỷ vương chết giữa đường đi trên trời

Chuột sa chĩnh gạo nằm chơi

Trâu cày ngóc lại chào dời bước ra…

 

“Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.”

 

“Đến Phụ-nguyên đời còn chinh chiến,

Trải bao thu dâu biển cát lầm,

Rừng xa vực thẳm nguồn thâm,

Nào ai biết lẽ nhân tâm lúc này?

Chó mừng chủ, gà bẩy cộc tác,

Lợn ăn no thả rác nằm chơi…

Đó mới kể là đời thịnh thế

Mà thiên hạ sao sẻ làm hai.

Người Đoài cũng thức ấy tài,

Mà cho người Sở toan bài lập công.

Bởi Trần vương ngu không kể siết,

Mới phen này dê lại giết dê

Đến khi thức tận binh bì,

Âm binh ở giữa, dễ thì biết sao.

Trời cho ta mang dao chém quỷ

Khắp dưới trời bình trị quỷ thư…”

Có hai đoạn trong Sấm Trạng Trình nói đến cuối năm Tuất, đầu năm Hợi, Đại Lãng Thiền Sư bàn rằng: “Chó kêu ầm ĩ mùa đông”: cuối năm Mậu Tuất, dư luận bất bình Cộng sản Việt Nam nổi lên mạnh mẽ, chống Đặc Khu Kinh tế, chống luật An Ninh mạng, chống bắt bớ đàn áp những người bất đồng chính kiến, dân oan và các vụ cướp đất, đặc biệt vụ Thủ Thiêm (Sài Gòn), trong lúc Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh các vụ án tham nhũng, loại bỏ một loạt các tướng lãnh quân đội và công an cộng sàn khiến cho trong nước như có những đợt sóng ngầm, nhất là nền tài chánh bị thua lỗ nặng, nợ chồng chất…Những tay cầm quyền họ Nguyễn tìm cách đi cầu cứu hoặc tẩu thoát, vì đầu năm Kỷ Hợi (2019) sẽ xảy ra nguy biến “Lợn kêu tình thế lâm nguy, quỷ vương chết giữa đường đi trên trời” và có thể tên đầu đảng quỷ cộng sản sẽ chết vì tai nạn máy bay khi tìm đường tẩu thoát…Đến năm Canh Tý (2020) thì kinh tế mới vững vì quỷ cộng sản đã chết và năm Tân Sửu (2021) thì mới có người ra lãnh đạo.”

Những câu “Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa, Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.” Ý nói cuối năm Tuất chắc sẽ có vận hội mới cho VN, và sang năm Heo thì đời sống dân Việt sẽ no đủ. “thánh chúa” có nghĩa là kẻ sáng suốt và Trời cho dao chém quỷ có thể là nhân dân sẽ nổi dậy “Khắp dưới trời bình trị quỷ thư…” tức là dẹp bỏ chủ thuyết cộng sản.” Mong là Sấm Trạng Trình mau ứng nghiệm!

Chuyện về Heo quá nhiều khó mà nói hết, chỉ xin thưa lại quý độc giả một vài chuyện để vui xuân Kỷ Hợi mà thôi. Chúc Một Năm Kỷ Hợi An Lành và Thăng Tiến!

NGUYỄN CHÂU

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*