Trương Si Lương: Truyện dài “Người Đàn Bà Ra Đi” Kỳ 1

Tuyện dài của Trương sĩ Lương – (Kỳ Một)

Thúy mất việc vì từ chối sự tống tình bức hiếp, một cách sỗ sàng của tên phó hiệu trưởng quyền hành và có nhiều tuổi đảng. Tên hắn là Dực, mới đổi về đây hơn một năm, nhưng mọi quyền sinh sát đều nằm trong tay hắn. Nhiều giáo chức trong trường cũng đã điêu đứng vì hắn.

Hơn mấy tháng rồi, hắn đã để ý đến Thúy. Trong những giờ nghỉ giải lao, hắn thường la cà gần Thúy, hoặc gọi nàng lên văn phòng để kiếm cớ tán hươu tán vượn. Thực ra, hắn là một cán bộ miền Bắc được đào tạo trên lãnh vực đấu tranh chính trị sắt máu. Hắn khoảng ngoài bốn mươi, người gầy ốm, nước da vàng khè như mắc bệnh đau gan. Rất nhiều lần hắn loanh quanh để cố thổ lộ chuyện tình cảm, nhưng lần nào Thúy cũng nói lơ qua chuyện khác và kiếu từ với lý do bận làm giáo án (bài tập).

Những hình ảnh hiếm về Đà Nẵng trước năm 1975

Một lần gặp nàng ở hành lang khi học trò đã vào lớp, hắn sấn lại ngang nhiên nắm lấy tay Thúy:

— Cô là một cô giáo gương mẫu và đẹp nhất trường.

Thúy rợn người, rút phắt tay ra khỏi bàn tay nham nhở của hắn rồi cố gượng cười:

— Cám ơn ông Phó Hiệu Trưởng.

Hắn lại cười nham nhở lộ hai hàm răng hô, đôi mắt cú vọ, dâm ô dán lên thân thể nàng:

— Cô mặc đồ gì cũng đẹp cả.

Thúy không thèm trả lời, thầm nghĩ cái thằng cha dâm dật cứ làm kiểu này chắc có ngày nàng sẽ mất việc. Thúy đổi sắc mặt:

— Thân tôi nghèo khó, đẹp nỗi gì nữa!

Hắn nói như để đe dọa:

— Tôi biết về cô nhiều lắm. Đáng lẽ tôi đã đề nghị thuyên chuyển cô về vùng kinh tế mới, hoặc sa thải vì chồng cô là “ngụy quân” đang còn trong thời kỳ “cải tạo”, dĩ nhiên là có liên hệ đến công việc dạy trẻ của cô. Thế nhưng, thấy cô hiền lành, vả lại…

Hắn ngập ngừng rồi tiếp:

— …Vả lại, cô còn hai cháu nhỏ nên tôi đành xét lại vấn đề.

Biết mình đang bị áp lực bằng những lời đe dọa, Thúy vừa giận, vừa lo sợ. Trong cơn giận dữ ấy, suýt nữa nàng đã mắng vào mặt hắn cho lại gan. Nhưng nghĩ đến Tuấn, Dũng nàng phải gượng cười. Hai bàn tay nàng xoa vào nhau, phát thành tiếng để lấy lại bình tĩnh:

— Thật… biết ơn ông Phó!

Thay vì nàng phải nói: “Đừng có đạo đức giả cha nội.”

Hắn đắc chí vì đã làm Thúy luống cuống, mắt vẫn không rời thân thể nàng, tưởng chừng như muốn ăn tươi nuốt sống. Hắn cười và trở về văn phòng với một lời an ủi, nhưng thật ra là một lời đe dọa:

— Nếu cần tôi sẽ giúp cô, nhưng tôi nghĩ…

Hắn định nói thêm gì đó, nhưng Thúy đã quay vào lớp học.

Thế rồi một chiều thứ Bảy, Dực tìm đến nhà Thúy. Sự viếng thăm bất ngờ của hắn đã làm Thúy bực mình, tuy vậy Thúy vẫn cố dịu dàng, nàng gọi con pha nước mời khách. Tuấn bưng ly nước đặt lên bàn và lễ phép chào hắn rồi thối lui.

Hắn ngồi vào bàn, tay xoay xoay ly nước, nhưng mắt vẫn dán vào người Thúy. Ý nghĩ chiếm đoạt đã làm hắn mê mẫn tâm thần. Hắn thầm nghĩ: “Thúy đẹp quá, mặc dầu sự thiếu hụt về kinh tế có phần ảnh hưởng đến nhan sắc của nàng, nhưng nét quý phái, dáng điệu đài các của một thiếu phụ hương sắc miền Nam vẫn còn nguyên vẹn”.

Từ ngày đổi về nhiệm sở này, hắn đã để ý đến Thúy. Nhiều lần bày tỏ tình cảm một cách công khai, nhưng sao hắn vẫn cảm thấy Thúy dường như có vẻ lơ là không để ý tới. Hắn thường mơ ước, nếu được ôm Thúy vào lòng thì đời còn gì sung sướng cho bằng, bởi hắn vẫn lý luận: “Đảng và nhà nước đã chiếm được miền Nam một cách dễ dàng, há lẽ hắn không chiếm được lòng một thiếu phụ miền Nam hay sao”. Trong giây phút mơ màng ấy, hắn chợt nhào tới, bất thình lình ôm chặt lấy Thúy và nói như bị ai hớp hồn:

— Tôi thương Thúy lắm! Tôi yêu Thúy lắm!

Không mấy ngạc nhiên với cử chỉ của hắn, vì Thúy đã đoán trước sự việc sẽ xảy ra. Thúy rất bình tĩnh, đẩy người hắn ra và mời ngồi. Cử chỉ mời mọc của Thúy đã làm hắn hơi ngượng, nhưng hắn vẫn tỉnh bơ:

— Nếu Thúy bằng lòng, tôi sẽ giúp…

Cơn giận đột ngột xâm chiếm trí óc, nàng có cảm giác như máu đang dồn hết lên mặt, lên óc. Đã đến lúc nàng phải nói thẳng vào mặt hắn, chuyện đến thì phải đến, phó mặc cho Trời định liệu. Thúy nói ngay:

— Ông bảo tôi bằng lòng cái gì? Tôi là người đàn bà có chồng, chồng tôi đang bị các ông đưa đi tù “cải tạo”, rồi lợi dụng dịp này ông đến đây ve vản, “giải phóng” vợ người ta phải không?

Dực hơi tỉnh người, nghe những lời cứng rắn của Thúy, mặt trở nên nham hiểm, hắn nghiêm nghị phán những lời nghe như mệnh lệnh của một quan lớn thời phong kiến:

— Tôi biết thế…nghĩa là cô có chồng học tập, nhưng tôi vẫn muốn được yêu cô. Vì tôi…

Thúy cướp lời:

— Vì sự sống, vì nồi cơm của ba mẹ con tôi nằm trong tay ông?

Hắn giữ im lặng, dường như để đo lường phản ứng của Thúy. Nàng gọi hai con, rồi nói:

— Xin lỗi ông Phó, tôi còn phải ra chợ mua ít đồ ăn cho các cháu.

Biết Thúy đuổi khéo, hắn hậm hực ra về, nhưng vẫn nói để gỡ gạc:

— Tôi nghĩ là cô nên xét lại lời nói và cử chỉ phản động khi nãy.

Thúy định cắt nghĩa hai chữ phản động như thế nào trong trường hợp này, nhưng thôi chỉ phí lời,  nàng lại im lặng để hắn ra về.

Thế là từ đó, ngày nào Thúy cũng được mời lên văn phòng, Dực kiếm hết chuyện này sang chuyện nọ để khiển trách nàng. Nào Thúy không đủ tư cách mà nhân dân giao phó để dạy dỗ con em họ, nào là giai cấp tư bản và quan niệm trong vấn đề giáo dục chưa được đả thông, chưa tiến bộ…

Một buổi sáng Thúy đang ngồi chấm bài, một em học sinh trực bước tới và lễ phép:

— Thưa cô, ông Phó Hiệu cần gặp cô ngay!

Thúy buông bút nhìn đứa học trò, cười gượng rồi bảo:

— Được rồi! Cô sẽ đến ngay!

Thúy thầm nghĩ không biết hắn sẽ chơi trò gì nữa! Hôm qua nàng đã mang câu chuyện tống tình và đe dọa ấy kể cho chị Thịnh, một đồng nghiệp thân nhất dạy cùng trường để nhờ chị giúp ý kiến. Chị Thịnh cũng rất lo sợ cho Thúy bởi vì gần đây trong những buổi họp kiểm thảo hằng tuần, hắn vẫn thường đề cập đến chuyện một vài giáo chức cố ý chống đối công tác mà nhà trường đề ra. Tuy thế, chị Thịnh cũng cho biết, nếu cần chị sẽ nhờ một người bạn trong ngành giáo dục can thiệp. Anh bạn mà chị sẽ nhờ là một cán bộ trẻ, đã từng du học ngoại quốc; tư cách rất người, thỉnh thoảng anh cũng chỉ trích đường lối hống hách và áp bức của một số cán bộ có nhiều tuổi đảng nhưng ít học. Chị Thịnh hứa sẽ nói ngay với anh ấy để nhờ giúp đỡ.

Thúy đứng dậy đi thẳng tới văn phòng. Dực đang ngồi hút thuốc, nhìn chăm chú vào đống giấy tờ trên bàn. Thấy Thúy bước vào, khuôn mặt hắn nghiêm nghị:

— Xin mời cô ngồi?

Thúy ngồi xuống ghế đối diện không nói. Hắn tiếp:

— Tôi có một vài chuyện cần bàn với cô.

Thúy nhìn hắn cảm thấy khinh bỉ, nhưng vẫn giữ lễ phép một cách miễn cưỡng:

— Trình ông phó.

Hắn rít một hơi thuốc, dụi tàn, thổi khói lên trần nhà, ho mấy tiếng rồi cất giọng:

— Gần đây tôi kiểm soát mọi sinh hoạt lao động của trường ta, nhận thấy việc sản xuất rau cải của học sinh lớp cô rất kém. Có lẽ vì cô mắc bận những hoạt động khác chăng?

Hắn ngừng lại giây lát, mồi một điếu thuốc khác, vẫn vẻ mặt nghiêm nghị, nham hiểm,  rồi tiếp:

— Nếu cô không cố gắng sửa chữa tốt thì tôi phải dùng đến biện pháp… biện pháp thích đáng.

Thúy lặng người ngao ngán với những lời lật lọng của Dực. Hai chữ hoạt động mà hắn vừa đề cập làm Thúy muốn điên người. Đối với sinh hoạt lao động học đường, Thúy vẫn thường được khen là lao động tốt. Lắm khi nàng cũng cảm thấy bất mãn bởi công tác lao động quá tàn nhẫn đối với học sinh sau giờ học. Có em gầy ốm xanh xao vì thiếu dinh dưỡng, thế mà vẫn bị bắt phải lao động sản xuất. Thúy tức muốn ứa nước mắt, nhưng nàng cố dằn cơn nóng để đối phó với tình thế hiện tại. Nghĩ đến những lời nói tráo trở lật lọng vừa rồi, Thúy hỏi hắn:

— Công tác nào tôi cũng hoàn tất, có kết quả tốt. Ông căn cứ vào sự kiện nào để phê bình kiểm thảo tôi?

Hắn nhìn ra cửa sổ, không thèm để ý đến câu hỏi của Thúy. Một lát sau, hắn lại nhìn lên trần nhà trả lời:

— Rồi cô sẽ biết dữ kiện nào! Cô nên cẩn thận trong lời nói thì hơn.

Thúy thừa biết là không thể nào chạy khỏi bàn tay gian ác của Dực, nàng nói thẳng vào mặt hắn:

— Tôi biết là ông tống tình mà tôi không bằng lòng nên mới có “dữ kiện” ngày hôm nay!

Hắn nhìn Thúy, cười mỉm để lộ khuôn mặt nham hiểm của một thằng công an:

— Chắc cô cũng biết là những lời vu khống có chủ đích, phát ra từ miệng, từ tư tưởng của cô là phản động?

Hắn hớp một ngụm nước trà rồi tiếp:

… Tôi báo cho cô biết, thái độ của cô không những phải tự xin nghỉ việc mà còn trình diện công an khu vực nữa là đằng khác. Nói cho cô biết thân, tôi đã gửi hồ sơ của cô đi để yêu cầu điều tra về những hoạt động có phương hại đến ngành giáo dục nhà nước.

Thúy giận run người, muốn la thật lớn, muốn nhảy đến cho hắn một bạt tai rồi đến đâu thì đến,  nhưng nàng đã không thực hiện được. Tay chân Thúy như bị ai khóa chặt. Lý của kẻ mạnh có quyền trong tay bao giờ cũng đúng!

oOo

Vò nát tờ giấy thôi việc trong tay, bước ra khỏi văn phòng, cơn giận đè lên bàn chân nàng nghe nặng trịch. Trên đường về nhà,  Thúy chợt nghĩ tới hai đứa con, chúng nó vốn đã thiếu thốn chén cơm manh áo gần 5 năm nay, giờ thì chắc chắn sẽ đói khổ hơn! Nhớ đến những đứa học trò mà Thúy vẫn chăm sóc, đùm bọc như những đứa con thân yêu của nàng từ đây sẽ phải xa rồi! Chao ôi định mệnh khắc nghiệt! Gần 10 năm trong nghề gõ đầu trẻ, Thúy có bao giờ nghĩ đến việc phải bỏ nghề! Mặc dù những năm sau 75, nghề không ra nghề, giáo dục không ra giáo dục, nhưng Thúy vẫn cố gắng để tìm niềm vui còn lại bên lũ trẻ thơ vô tội.

Lại nghĩ đến Hãn, giờ này chàng vẫn còn trong trại “cải tạo”. Những năm đầu còn chút vốn liếng và vật dụng, Thúy đã bán dần để mua thêm gạo cho con, bởi đó là nhu cầu cần thiết hằng ngày vì gạo được mua theo giá chính thức không đủ cho một người ăn.

Mấy năm rồi mà Thúy chỉ đi thăm Hãn được một lần. Cũng phải trầy da trốc vảy mới đến được trại tù. Lần gặp Hãn, Thúy đã khóc hết nước mắt trên đường về bởi chàng gầy ốm như một cây sậy biết đi, bệnh hoạn xanh xao! Có lẽ những đớn đau muộn phiền đã làm chàng thay đổi tính tình, chàng trầm lặng, chỉ trả lời cho qua chuyện.

Bây giờ nàng đã nghỉ việc, ra khỏi qủy đạo hắc ám do thằng phó hiệu Dực gây ra, nhưng sự lo lắng về miếng ăn cho mẹ con nàng lại là một vấn đề lớn. Bao nhiêu năm nay, Thúy tận tụy với nghề nghiệp, với lương tâm của một cô giáo gương mẫu. Thức khuya dậy sớm, cố gắng cả trên phương diện lao lực, lao tâm hầu vượt qua những khó khăn sẵn có ở nàng, bởi có chồng “học tập cải tạo” là một cái cớ to lớn cho những tên cán bộ giáo dục dòm ngó, bươi móc.

Đứng trước một viễn cảnh đen tối không lối thoát, Thúy sẽ làm gì để nuôi con? Số nữ trang còn lại sẽ phải đem bán để sống? Rồi hết nữ trang thì đào đâu ra tiền để nuôi con? Càng nghĩ Thúy càng cảm thấy lo lắng, tuyệt vọng!

Về đến nhà Thúy nằm vật xuống giường, cố giấu những giọt nước mắt cay đắng khi hai đứa con nàng chạy đến an ủi mẹ:

— Mẹ chỉ nghỉ việc một thời gian rồi mai mốt xin trường khác dạy lại nghe mẹ?

Thúy cố nói liền cho hai con vui:

— Vài bữa nữa mẹ nhờ dì Thịnh xin đổi về Huế dạy trường khác.

Tuấn nói theo:

— Về Huế sống có bà con đỡ khổ hơn mẹ hí?

oOo

Hôm đem bán một ít nữ trang sính lễ cưới kỷ niệm của Hãn, Thúy cảm thấy xót xa và một nỗi buồn man mác dâng ngập tâm hồn nàng. Những đồ vật vô tri vô giác ấy bỗng dưng như có linh hồn, bởi nó đã ở quen với Thúy, đã đánh dấu mối tình Thúy Hãn. Bán nó đi, nàng có cảm giác như chính mình đã làm nứt rạn tình yêu, xoá bỏ những ngày hạnh phúc êm đềm bên nhau.

Thúy cảm thấy nhớ chàng hơn bao giờ hết, nhớ ngày mới quen nhau, nhớ ngày cưới, nhớ đến một tình yêu chân thật đã trói cột hai người thành vợ thành chồng, nhớ nụ cười, cử chỉ đầy tình tứ mỗi lần đón nàng vào những buổi tan trường. Nhớ quá! Cái nhớ điên dại quay cuồng đến đau thắt ở ngực. Giờ này ước gì có Hãn bên cạnh để được chia sẻ những đớn đau cùng cực, để an ủi nhau trong cơn hoạn nạn.

Thế mà Thúy phải bán đi những báu vật ấy, mặc dù số tiền đó sẽ sử dụng vào việc đi thăm Hãn. Nàng sẽ mua cho chàng một ít thực phẩm và những đồ dùng lặt vặt. Biết đó là lý do chính đáng, nhưng lòng nàng vẫn cảm thấy hối hận. Khi trao chiếc vòng ngọc và chuổi ngọc trai cho người mua, Thúy đã không cầm được nước mắt, nàng lâm râm như một người đang cầu xin tha tội:

— Em thật có lỗi, xin anh đừng giận!

Từ hôm được giấy chấp thuận cho đi thăm Hãn, Thúy cảm thấy lòng nôn nóng rộn ràng. Mấy hôm rày nàng phải đi mua ít thịt để làm lương khô, một con gà nhỏ làm rô-ti dành cho Hãn một nửa, nửa còn lại dành cho Tuấn Dũng ăn một bữa cho đả thèm. Hai đứa con nàng ngửi được mùi thơm thịt gà đã muốn nhểu nước bọt. Thúy chặt gà làm đôi, rồi chặt hai nửa thân gà cho Tuấn và Dũng. Hai anh em vừa nhai miếng thịt gà thơm ngon vừa sung sướng nói với mẹ:

— Ngon quá, lâu lắm rồi con mới được ăn thịt gà!

Thúy gật đầu không nói. Thấy con ăn ngon miệng, Thúy vui lây. Thầm nghĩ, nếu có tiền cho chúng ăn no đủ chắc chắn sẽ chóng lớn và thông minh hơn. Dinh dưỡng, bồi bổ cơ thể lúc này Thúy mới thấy quả thật quá quan trọng. Nhưng tiền đâu để mua thực phẩm, mà thực phẩm có ở đâu để mà mua!

Dũng đã ăn hết phần gà, mắt liếc qua nửa con đang nằm trong soong. Tuấn thấy em còn thèm ăn, vội nói:

— Nửa con kia sớm mai má mang đi cho ba.

Thúy nựng con:

— Mai má đi thăm ba, đứa nào thương ba nhất thì gửi cái hôn theo má!

Cả hai cùng la lên:

— Con…con.

Dũng làm nũng:

— Con muốn đi thăm ba. Sao ba đi lâu quá vậy? Ba không về?

Dũng còn bé, chưa hiểu được việc đi “cải tạo” của ba nó, nhưng nàng không muốn giải thích, chỉ khuyên:

— Con ở nhà lo học, đi về đàng hoàng. Ngày mai hai con phải lên dì Thịnh. Mẹ đi thăm ba, ba bốn bữa mẹ về.

Dũng ngây thơ:

— Mẹ đi thăm rồi đem ba về cho con thăm nghe mẹ?

Thúy cảm động, muốn khóc, nhưng nàng cố nói lơ qua chuyện khác:

— Ừ, nhưng mà ba chưa về được!

— Sao vậy mẹ?

— Vì ba đang bị tù!

— Tại sao ba phải đi tù?

Thúy thở dài, định nói lãng qua chuyện khác nhưng Tuấn đã cướp lời:

— Vì mấy ông bộ đội từ miền Bắc vô đây đánh nhau với ba mình, ba thua thì phải đi tù!

Thúy để ngón tay lên môi nghe tiếng “sụyt” rồi bảo hai con:

— Chúng con cẩn thận, người ta nghe được thì cả ba mẹ con mình cũng đi vô tù, nghe chưa?

Tuấn, Dũng im lặng sau lời dặn của mẹ, nhưng vẫn đòi đi thăm Hãn. Thúy hứa lần tới sẽ cho đi. Nhìn con, nàng thầm trách sao Thượng Đế không công bằng, đời còn gì bất hạnh bằng con cái thiếu tình thương của cha mẹ, thiếu sự chăm sóc lo lắng theo lẽ tự nhiên của con người. Thúy lại liên tưởng đến hằng triệu mái đầu xanh đã và đang là nạn nhân của một chế độ bất nhân. Trường học thì dạy chúng tố cáo cha mẹ, trẻ thơ được nhồi sọ để trở thành những con người máy, không tình, không nghĩa vì não bộ của chúng đang hoạt động y như một con vẹt. Thúy đã chứng kiến nhiều cảnh chướng tai gai mắt làm nàng phải đớn đau căm phẫn.

oOo

Theo sự chỉ dẫn, Hãn hiện ở một trại cải tạo thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Sau hơn một ngày dài, Thúy mới đặt chân đến được thành phố đổ nát này. Nơi đây, cảnh vật vắng vẻ tiêu điều là dấu tích của cuộc chiến “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972. Cổ thành Quảng Trị đã trở thành một bãi tha ma. Cây cỏ thi nhau mọc lên như một cánh rừng thưa. Một số dân địa phương vì yêu nơi chôn nhau cắt rốn nên đã hồi cư, họ dựng lại những mái tranh lụp xụp, thưa thớt, vắng lạnh như một vùng đất vừa mới khai phá. Thúy tự hỏi, biết đến bao giờ mới có thể tạo được sinh khí ngày xưa! Quảng Trị thân thương của tôi ơi!

Hôm qua, Thúy phải ở lại đêm với một bà già cùng đi thăm nuôi con trai ở trại cải tạo. Nói tới hai chữ cải tạo, Thúy cảm thấy như một cái gì lờm lợm chạy lên cổ họng. Người ta thắng trận và tự do đặt những danh từ mới để buộc kẻ thua cuộc phải chấp nhận. Người ta cũng biết đó là những trại tù dã man khủng khiếp nhất từ xưa tới nay và người ta cũng biết đó là danh từ mị dân…nhưng ai có thể chống họ trong lúc này!

Quán trọ nghèo nàn, mái tranh vách đất, chỉ có mấy chiếc chõng tre được kê hàng ngang cho khách trọ qua đường. Suốt đêm nàng đã không chợp mắt, tiếng kêu kèo kẹt từ mái tranh tung gió đẩy đưa đã làm nàng phát sợ. Tiếng côn trùng thi nhau tấu khúc mơ mơ tỉnh tỉnh như có tiếng ai kêu khóc trong đêm vắng.

Thúy sực nhớ đến anh tài xế xe đò tốt bụng đã tìm chỗ trọ và trả luôn tiền trọ làm nàng cảm thấy áy náy trong lòng. Suốt quãng đường từ Huế ra Quảng Trị, Thúy được ngồi ở ghế carbin với anh tài xế ấy. Anh tên Cung, cũng ở Đà Nẵng gần chợ Cồn, mới vào nghề tài xế chưa đầy hai năm. Sau câu chuyện qua lại, Thúy mới biết là Cung đã biết Thúy dạy ở trường Nữ Trung Học. Khi đến quán trọ, Cung còn căn dặn nên cẩn thận vì ở đây bọn cắp vặt khá nhiều. Đúng là bần cùng sinh đạo tặc, đói làm liều, đói mất hết nhân phẩm, đói làm não bộ không còn cơ hội để suy nghĩ. Vì vậy, người ta tìm cách giam đói cả nước để trị nước. Đói rồi làm sao chống đối! Nhưng mà ngu quá! Như vậy thì làm sao đất nước khá được! Thật là một lũ ngu đang nắm bao tử và muốn biến người ta trở thành ngu như mình!

Thúy dậy sớm vì trằn trọc suốt đêm không ngủ, bà già đồng hành nằm bên cạnh lên tiếng:

— Cô dậy sớm quá!

— Dạ cháu không ngủ được vì lạ chỗ, cái tật của cháu hễ đi đâu xa là rất khó ngủ.

Bà già vươn vai mấy cái rồi ngồi dậy vặn lưng kêu răng rắc:

— Tui mỏi quá, không biết có theo kịp cô không đây! Nghe nói trại cải tạo ở bên kia sông, phải đi đến mé rừng đến 5,6 cây số mới tới nơi.

— Cháu đã hỏi thăm rồi, sẽ chờ bác đi cùng, miễn sao đến được trại vào buổi trưa là được.

Bà già vui mừng:

— Rứa thì còn chi bằng, nhờ cô. Xin hỏi cô, ông nhà bị học tập từ đó đến chừ có hy vọng về được không?

Thúy không nói, chỉ lắc đầu. Bà già thở ra than van:

— Con tui cũng rứa, không biết khi mô mới về sum họp với gia đình! Chờ như ri thì e dài cả cổ, chết xuống lỗ cũng không được gần con! Sinh con ra cho ăn học mới chập chững nên người, chưa kịp mừng thì đã ở tù!

Bà già rơm rớm nước mắt. Giờ này có hằng triệu bà mẹ cũng cùng một cảnh ngộ. Thúy nghĩ, quê hương đất nước lầm than,  ai đã gây nên hận thù! Tại sao không đem tình thương đối xử với người! Để phải đau lòng mẹ Việt Nam vốn đã gầy gò xơ xác qua nhiều thế hệ! Thúy càng nghĩ, càng cảm thấy cái phi lý tàn bạo của chiến tranh, của những người lợi dụng danh nghĩa, ý thức hệ điên khùng để tìm cách giết hại nhau, bỏ tù nhau, hành hạ nhau.  Hận thù như thế sẽ chồng chất từ thế hệ này qua thế hệ khác!

Mặt trời đã bắt đầu nhô lên từ hướng Đông, ra khỏi những chòm cây rậm rạp. Ở đầu bến xe là những chiếc xe cũ rích từ đời Bảo Đại để lại, chạy bằng củi y hệt như bức tranh cổ của một xứ Tây phương ởThế Kỷ thứ 19. Mấy chiếc xe ấy cứ thi nhau nổ máy rồi tắt máy, có lẽ tài xế đang dợt cho nó làm quen với buổi sáng.

Bất chợt, Thúy giục bà già:

— Bác cháu mình lên đường thì vừa?

— Ừ đi chơ răng.

Thế là hai người vai mang tay xách hành lý rời quán trọ qua cầu Thạch Hãn. Đây là con sông lịch sử mang nhiều dấu vết đạn bom trước năm 1975.

Bước đi trên con đường mòn khô ráo làm Thúy cảm thấy vững tâm, sự di chuyển dễ dàng hơn là nàng đã ước tính trước đây. Đi mãi hơn hai giờ Thúy mới gặp một anh cán bộ cỡi xe đạp lù lù lướt tới.

Thấy tên cán bộ, Thúy gật đầu chào. Hắn ngừng xe cười duyên với Thúy. Bà già hỏi nhanh:

— Còn bao xa nữa mới tới nơi học tập đây anh cán bộ?

Hắn nheo mắt liếc Thúy như vừa ý rồi trả lời:

— Chắc cũng phải “nà” 2 giờ đồng hồ nữa mới tới. Nếu mấy chị đi thăm nuôi thì nên đi nhanh “nên” cho còn kịp giờ thăm.

Bà già cám ơn anh cán bộ rồi tiếp tục đi. Anh ta quay đầu xe đạp, nhìn theo Thúy đến ngẩn người, suýt đâm vào bụi rậm.

Họ tiếp tục đi, mớ hành lý tay mang tay xách đã bắt đầu nặng hơn. Thúy cảm thấy nóng nực như đứng trước một lò lửa. Bà già cũng thở hổn hễn rồi ngồi phệt xuống thảm cỏ vàng úa. Thúy hớp một ngụm nước, thở ra nhẹ nhàng.

Chưa nghỉ tới mười phút, họ lại tiếp tục lên đường, mãi cho đến khi xế bóng mới tìm được một tàng cây để tránh nắng. Nắng đổ xuống như lửa đốt, hơi nắng hực ra mang theo độ ẩm làm Thúy cảm thấy ướt át khó chịu.

Bà già thở dốc như muốn đứt hơi. Thấy vậy, Thúy an ủi bà:

— Sắp đến rồi bác ơi?

Không thấy bà trả lời mà chỉ nghe tiếng thở. Thúy nhìn bà chợt nhớ tới mẹ nàng. Mẹ đã chết từ 75, ước ao của mẹ là được sống gần con cháu, nhưng rồi mẹ đã vĩnh viễn ra đi…Thúy nhớ hồi đổi về Đà Nẵng, xa nhà chưa đầy một năm mà đã cảm thấy dài như cả thế kỷ. Trông mãi mới đến tháng Chạp để về với mẹ ăn Tết đại gia đình. Mẹ thì trông sao cho năm hết Tết đến để được gặp con cháu, cho vơi bớt những nhớ thương. Thúy vẫn nhớ, mỗi lần về mẹ mừng đến chảy nước mắt; có lần đã làm cháy cả nồi cơm ở bếp vì mẹ mãi quanh quẩn bên nàng.

Rồi những ngày xuân trông chờ ấy qua nhanh, mẹ chưa hết mừng thì con lại ra đi. Tội nghiệp cho mẹ! Xuân sau tóc mẹ thêm nhiều đốm trắng, da mẹ nhăn thêm nhiều đường. Những vết nhăn ấy là dấu tích của đợi chờ thương nhớ, của lo lắng triền miên suốt một đời mẹ. Bây giờ mẹ đã nằm yên dưới lòng đất lạnh, chắc mẹ vẫn còn nhớ thương con gái của mẹ!

Đang miên man về mẹ, một người đàn bà đi ngang qua, có lẽ là từ hướng trại “cải tạo” về, Thúy vội hỏi:

— Thưa chị đi thăm nuôi về?

— Đi từ hôm qua mà sáng nay mới gặp được anh ấy. Buồn quá chị ơi!

Người đàn bà trả lời như muốn rơi nước mắt, Thúy vào đề ngay:

— Đã sắp tới nơi chưa chị?

Người đàn bà vừa nói vừa chỉ tay. Thúy vững bụng là sắp đến được địa điểm, lòng nàng rộn ràng buồn vui, hồi hộp.

— Anh nhà có hy vọng về không?

Người đàn bà chỉ lắc đầu, lặng lẽ cất bước. Bà già nhìn theo Thúy rồi nói:

— Tui có thấy chi mô, chỉ toàn rừng với rừng!

Trước mắt Thúy, bây giờ là một trại cải tạo to lớn, mái nhà cách nhau đều đặn bao bọc bởi một hàng rào tre cao quá đầu người. Họ sắp đến gần chòi canh, trên chòi là một họng súng đại liên lòi ra ngoài như hăm he nhả đạn. Một tên công an bước ra từ chòi canh, nhìn chăm chăm vào Thúy và bà già rồi cất giọng:

— Trình giấy phép thăm nuôi và mang tất cả đồ đạc vào để cán bộ kiểm soát.

Hai tên cán bộ kiểm soát khá kỹ lưỡng, mở tung những gói đồ. Một tên nhìn chầm chập vào Thúy, định mở miệng nói gì đó, nhưng tên cán bộ kia cất tiếng cướp lời:

— Kiểm soát xong, hai chị theo tôi vào lối này.

— Dạ.

Từ ngày Cộng sản vào, cách xưng hô cũng đã đổi thay, chỉ nghe toàn anh chị. Tuổi người ta đáng ông ngoại, bà nội họ cũng chỉ kêu anh kêu chị. Hồi họ mới vào, chưa quen nghe thật chói tai, nhưng riết rồi cũng thây kệ.

Anh công an vẫn mang súng trong tư thế tác chiến, rẽ qua phía tay phải, con đường đất dẫn đến khu thăm nuôi khá sạch sẽ. Sau tàng cây lớn là một mái lều trống không vách, toàn những chõng tre được xếp ngay ngắn. Đây là khu chờ đợi, một số đông thân nhân kẻ đứng người ngồi, chắc là họ đã đến đây từ hôm qua vì Thúy là người sớm nhất trên con đường mòn sáng nay. Vả lại, trông họ có vẻ mệt mỏi thì biết ngay là đã chờ suốt từ ngày hôm qua.

Cách một con đường nhỏ và cái sân khá rộng là một chòi nhà tranh khác, Thúy có thể nhìn thấy nơi đó được kê vài chiếc bàn ghế, mấy tên công an đang đi đi lại lại quanh những chiếc bàn đó. Thúy thấy có người đang ăn, có người đang nói chuyện, chắc là nơi gặp gỡ thân nhân.

Một toán 4 người tù đang tiến về phía trước mắt nàng, thân nhân họ dứng dậy nhìn nhau mừng rối rít. Họ gầy ốm xơ xác hơn những kẻ ăn mày, áo quần rách nát tả tơi! Thúy liên tưởng đến những truyện tù mà nàng đã đọc qua. Tù Do Thái dưới thời Đức Quốc Xã, tù Tây Bá Lợi Á của Liên Sô… Thì ra là thế, loài người vẫn lặp đi lặp lại những hận thù, chém giết lẫn nhau chỉ vì quyền lợi, chỉ vì tham lam muốn giành tất cả cho mình! Ai khổ ai đói, ai chết mặc ai, miễn là những kẻ nắm quyền thống trị được hưởng thụ và hưởng thụ là được.

Anh cán bộ lấy tên tuổi thân nhân của Thúy và bà già rồi dặn:

— Hai chị ngồi ở đây, chúng tôi sẽ báo tin khi thân nhân đến.

Thúy ngồi dựa lưng vào một thân tre làm cột nhà, bà già cũng nhừ người nên ngồi phệt xuống đất. Thúy hớp một ngụm nước rồi đưa mắt về phía dãy trại lờ mờ ở đằng xa. Nhìn cảnh trại “học tập”, Thúy có cảm giả như chính mình đang lạc vào một bản Thượng nào đó ở vùng Cao Nguyên, chỉ khác nhau ở chỗ không có cán bộ áo quần thùng thình, đầu đội nón cối và những họng súng canh gác mà thôi.

Một anh công an qua lại trong khu vực đợi chờ, thấy anh ta có đeo đồng hồ Thúy hỏi:

— Thưa cán bộ mấy giờ rồi?

Anh công an khoái chí vì có người để ý đến cái đồng hồ của mình và được gọi là cán bộ, bởi thật sự anh ta chỉ là một tên công an mang cấp bậc binh nhì thuộc toán bảo vệ, còn sĩ quan mới được gọi cán bộ. Hắn tiến lại gần Thúy, nhìn nàng rồi nhìn đồng hồ thật lâu, miệng tính nhẩm:

— Vâng, ba giờ hơn.

Thúy cũng đoán biết là anh chàng này tính hoài mà không ra số phút, nên đành nói đại ba giờ hơn cho khỏe. Hắn cười tít mắt, lưỡng quyền nhúc nhích lên xuống làm Thúy cũng không nhịn được cười:

— Xin cám ơn cán bộ!

Bây giờ nàng mới thấy đói. Thúy mở gói cơm vắt trộn khoai mì ra nhai, uống một hớp nước, cho một viên kẹo gừng vào miệng để lấy lại sức. Tên cán bộ từ đàng xa đi lại đọc danh sách tù nhân. Nguyễn văn… Trần Hùng.. Lê.. Hoàng văn Anh… Thân nhân đứng dậy mừng rỡ. Tên cán bộ tiếp:

— Lê Nguyên Hãn. Tất cả thân nhân của những trại viên tôi vừa mới đọc tên, di chuyển qua căn nhà trước mặt để thăm nuôi.

Thúy đứng dậy, bà già cũng đứng dậy:

— Có tên con tôi Hoàng văn Anh, phải không?

Thúy mừng:

— Có cả hai.

Thúy đứng chết lặng nhìn chồng không nói được một lời! Không gian như chìm trong im lặng! Trong cái im lặng đó, mừng! Tủi! Muốn khóc thật nhiều! Gọi tên Hãn thật lớn! Nhưng không được! Cấm ôm! cấm khóc!

Họ đã dặn rồi! Trái lệnh, lần sau khỏi đi thăm!

Tâm tư nàng cảm thấy đất trời như đang quay cuồng sụp đổ! Thúy muốn la thật lớn. Tại sao chàng có thể gầy ốm như thế này? Một bộ xương biết đi! Một cây sậy khô héo! Nước mắt Thúy chảy xuống, chảy xuống! Mặn đắng ở đầu môi.

Vuốt lại mái tóc cho Thúy, Hãn cố nói thật lớn cho tên công an đang trông chừng cùng nghe:

— Anh đang trong giai đoạn lao động tốt, hy vọng sẽ được di chuyển qua một trại khác khá hơn. Hai con Tuấn, Dũng lớn không? Chúng ngoan? Có quấy rầy em không?

Thúy nói trong nghẹn ngào:

— Các con đều ngoan và lớn cả, chúng nó rất muốn đi thăm anh, nhưng đường sá khó khăn nên đành chịu!

— Em đi như thế này ai chăm sóc tụi nó?

— Chị Thịnh, chị ấy là người bạn duy nhất sau ngày xảy ra…

Thúy định kể lại chuyện nghỉ việc, nhưng thấy không cần thiết, đành thôi. Ngồi xuống ghế, Thúy mở nửa con gà đưa cho Hãn, chàng đang đói, ăn ngay. Hãn ăn thật ngon, nuốt vội vàng, thỉnh thoảng nhìn tên công an rồi nói nhỏ với Thúy:

— Có tin gì lạ không? Tình hình có gì thay đổi? Em nên về Huế thăm mẹ, xin mẹ ít “cây”, rồi tìm mối chạy cho anh?

Lợi dụng tên công an đang la cà bên bàn kế cạnh, Thúy đáp ngay:

— Em có hỏi một lần, nhưng mẹ cũng rất túng quẩn, tiền bạc đâu mà xin!

Hãn thất vọng đổi đề tài và nói thật nhỏ:

— Anh nhớ em và hai con đến nỗi nằm mơ rất nhiều lần. Nếu được điều kiện chắc mình phải trốn ra nước ngoài cho tương lai con cái. Đất nước này là một trại tù khổng lồ, tương lai con cái không biết sẽ về đâu! Rồi chúng nó lớn lên trong sự giáo huấn của họ thì thật là tai hại!

Thúy nắm lấy tay chồng, sờ lên những vết chai trong lòng bàn tay gầy guộc, xót xa cho thân phận của kiếp tù đày. Thúy cảm thấy đau ở ngực, nhưng lại tự kiềm chế cơn xúc động. Không được! Không được yếu mềm! Phải cứng rắn để an ủi Hãn! Cố gắng, cố gắng!

— Em hy vọng một ngày nào đó anh sẽ về.

Hãn thở ra rồi lắc đầu và nói lãng qua chuyện khác:

— Chiều nay được tin em vào thăm, anh mừng muốn khóc.

— Em có mua cho anh một bộ đồ đen vải tốt, một ít thịt kho khô, một ít thuốc nhức mỏi như anh yêu cầu trong thư.

Ngoài kia nắng chiều vẫn còn gắt, xa xa là núi rừng trùng điệp. Ánh nắng rọi rõ ràng qua những cánh rừng chỗ cao chỗ thấp. Trong khu vực trại, một làn khói trắng của nhà bếp tù bốc cao lên bầu trời trong vắt. Một đàn chim rừng màu sắc xinh đẹp đang nô đùa trên một chòm cây. Hãn yên lặng nhìn chúng thèm thuồng, rồi nắm lấy tay Thúy thở dài:

— Không biết bao giờ mới được về với em và con như bầy chim đang sum họp nô đùa!

Thúy xúc động, nước mắt lăn dài xuống má. Hãn nói khẽ:

— Em đừng khóc, anh sẽ bị phê bình.

Thúy đưa tay lau vội những giọt nước mắt, Hãn nắm chặt tay nàng:

— Em hãy cố gắng chờ ngày đoàn tụ và chúng ta sẽ tìm đường tự do.

Người xưa thường nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”, mất tự do là mất tất cả. Bình thường, con người không quí hai chữ tự do, nhưng khi hoàn toàn mất nó thì mới cảm thấy quí, quí hơn bất cứ một báu vật nào trên cõi đời này, kể cả phải đánh đổi lấy mạng sống để được tự do.

Thúy thấy đau ở ngực khi nhìn Hãn lủi thủi bước đi, nàng không thể cầm được nước mắt, ngồi gục xuống…gục xuống và rồi Thúy chẳng còn thấy gì nữa. Tất cả chỉ còn là một bóng tối, với núi rừng, với trại giam. Tại sao phải như thế này! Quyền sống của con người ai đã cướp mất! Vô lý! Vô lý và vô lý!

Có tiếng người cán bộ ra lệnh:

— Xong rồi, mời chị ra về!

Thúy không trả lời, đứng dậy rời khỏi khu thăm viếng, nàng muốn gào thật lớn cho đất trời vỡ tan, cho mưa rơi, cho bão tới, cho núi rừng sập xuống… Thúy muốn bay đi thật nhanh để quên hình cảnh đau thương của trại tù, của núi rừng, của chòi canh, của họng súng, của những con ma đói đang chờ từng miếng ăn. Nhưng đôi chân nàng dường như bị một hấp lực nào đó rị lại. Thúy lẩm bẩm:

“Hãy đi nhanh lên! Chân ơi! Sao thế này! Cố gắng lên! Nghị lực của trí óc, sức mạnh của tâm linh mày đâu rồi, Thúy ơi”!

Con người và hai chữ tự do, khốn thay! Chính nàng có tự do hay không? Hay tất cả chỉ là một trại tù, không hơn không kém! Tù ở ngoài, hay tù ở trong trại cũng vẫn là tù ngục!

oOo

Khi quyết định đi buôn bán lặt vặt kiếm chút tiền nuôi con sinh sống qua ngày, Thúy về Huế thăm mẹ chồng với ý định gửi Tuấn, Dũng cho mẹ để tiện việc đi lại mua bán. Thế nhưng một bầy cháu ngoại mẹ đã coi sóc không xuể, nên Thúy bỏ ý định gửi con.

Mua gánh bán bưng, Thúy thật sự đã không tranh lại với người ta, bởi từ ngày khôn lớn cho đến khi lấy chồng, Thúy nào biết đến việc thương mại! Khôn ngoan có thừa, nhưng mánh khoé về mua bán thì nàng mù tịt.

Hôm chị Thịnh đưa cho Thúy mấy ngàn đồng để làm vốn liếng, Thúy cảm động đến rơi nước mắt:

— Trên đời này, chị là người tốt nhất đối với em. Dù không phải cật ruột, nhưng chị đã lo cho em quá nhiều. Không biết bao giờ mới đền đáp lại công ơn này được!

Chị Thịnh an ủi:

— Hãy cố gắng lên! Lãnh vực mua bán rất cần sự khôn khéo và kiên nhẫn. Chị tin rằng với sự tháo vát của em, việc kiếm sống nuôi con không phải khó. Tuy không phải máu mủ cật ruột, nhưng chị em mình đã trở thành ruột thịt. Số tiền mà chị đưa cho em, tuy không to lắm, nhưng đây là tấm lòng của chị.

— Trước hoàn cảnh hiện tại, miếng khi đói bằng gói khi no, chị đã sống có tình có nghĩa, một đời em sẽ không quên.

Chị Thịnh vui vẻ nói qua chuyện khác:

— Nếu phải đi xa, cứ đem Tuấn, Dũng lên đây cho chị?

— Em chỉ sợ hai cháu hoang nghịch sẽ làm phiền tới chị!

Chị Thịnh ngắt lời:

— Chị đã coi em như ruột thịt thì con em là cháu của chị, sao lại sợ phiền?

Thúy ra về, lòng cảm thấy sung sướng, bởi chị Thịnh đã cho nàng cái cảm giác ấy, món ăn tinh thần ấy đã làm Thúy vững tâm và có cảm giác những chuyện xui xẻo sẽ trôi qua.

Thật thế, ở đời, khi lâm vào cảnh túng quẫn bi đát mới thấy rõ ai là người tốt bụng, mới thấy được cái chân giá trị của hai chữ tình nghĩa; nhất là trong hoàn cảnh xã hội hiện tại, còn ai tin ai! Sống hôm nay và không biết sáng hôm sau sẽ ra sao? Thành thử ai cũng lo thủ thân, ngay đến cả anh chị em ruột thịt cũng còn khó tin nhau! Người ta đã dùng đòn bao tử để phân hóa con người trong gia đình, ngoài xã hội, đưa miếng ăn và sự tranh sống để chia rẽ người thân, bạn bè… nhưng chị Thịnh thì vẫn trước sau như một. Thúy hứa trong lòng, một ngày nào đó sẽ đền ơn.

Ngày đầu tiên nhập cuộc với nghề bán hàng chạy, Thúy được Cung giới thiệu với Lan, người chị họ đang buôn bán đồ ngoại quốc. Lan cỡ trạc tuổi của Thúy, là một người nhanh nhẹn và rất bặt thiệp, mới gặp lần đầu mà Thúy đã có cảm tình ngay. Gặp Thúy, Lan an ủi:

— Nghe cậu Cung kể lại chuyện chị mất sở làm vì cái thằng mắc dịch làm tôi cũng tức lây. Cứ như tôi chắc phải làm cho ra lẽ, tới đâu thì tới, hiếp đáp người ta hoài đâu được.

Thúy thở dài:

— Có chồng đi “cải tạo” là một cái cớ cho họ chụp mũ “phản động”. Nghĩ cho cùng, làm đến nơi,  mình cũng thua cuộc, đôi khi còn mang họa vào thân nên tôi vẫn nghĩ tránh voi đâu có xấu mặt.

Lan lý luận:

— Phản động sao được? Mình có ở cùng phe với họ bao giờ mà cứ gọi người ta phản động! Chỉ biết xài những danh từ quê một cục: “Hồ hởi, phấn khởi”. Tối ngày toàn nghe những từ ngữ ngốc ơi là ngốc!

Lan làm một hơi không muốn dứt, nhưng nghĩ sao nàng lại an ủi Thúy:

… Thôi thì chị theo tui mua bán hàng chạy nuôi con qua ngày cũng được. Thú thật với chị, lương tháng giáo chức là “dứt cháo”, nhiều khi không bằng lời một món hàng. Thế nhưng, mua bán không có giờ giấc nên cũng vất vả và đôi khi còn nguy hiểm. Tuy vậy đã có tôi và cậu Cung giúp chị trong bước đầu chắc cũng không đến nổi tệ.

Thúy mừng ra mặt:

— Thú thật với chị, mua bán xưa nay tôi chưa hề biết, vậy trăm sự nhờ chị và anh Cung.

— Việc gì làm riết rồi cũng quen, học chữ mới khó chứ học nghề thì mấy hồi. À cậu Cung mới đến thăm tôi hồi sớm, cậu ấy phải chạy chuyến xe sớm ra Huế. Có lẽ ngày mai Cung mới về lại.

— Anh ấy vẫn khỏe?

Lan nói nhỏ chỉ để vừa Thúy nghe:

— Sáng nay tôi cũng định theo Cung và mang một ít hàng…bột ngọt ra Huế bán, nhưng lại đợi chị nên đổi ý.

Thúy hỏi nhỏ:

— Nhưng nhiều tiền vốn, làm sao đủ để mua? Vả lại, nếu bị tịch thu,  hết vốn còn gì mà buôn bán?

Lan giải thích:

— Thật ra không cần nhiều vốn, nhưng mình phải quen mối quen lái mới được.

Thúy đề nghị:

— Ngày mai chị em mình làm thử một chuyến được hí?

— Ngày mai ghé tôi sớm rồi mình tính chuyện.

Thúy vui vẻ:

— Vạn sự đều nhờ ở chị.

Từ giã Lan, ra khỏi khu chợ Cồn, thả bộ trên lề phố vắng người qua lại, Thúy cảm thấy một niềm vui lớn dậy trong tâm hồn nàng. Thúy thầm nghĩ, nếu trời cho làm ăn phát đạt thì đỡ cho con cái nàng biết mấy, bởi chúng ốm yếu vì thiếu dinh dưỡng.

Nghĩ đến ngày mai nhập cuộc, Thúy cảm thấy lo lắng hồi hộp. Lại nghĩ tới Cung, một người tốt bụng, Cung lớn hơn Thúy vài tuổi, nhưng bao giờ anh ấy cũng lễ phép. Có lần Thúy cũng thắc mắc tại sao mới gặp Cung chỉ vài ba lần mà anh ta lại tốt bụng như thế. Hỏi ra mới biết là ở cùng một con đường và Cung đã biết gia đình Thúy từ lâu, chỉ tiếc không có dịp để quen nhau. Có lần Cung nói: “Ở xứ này ai mà không biết chị, một thời nổi tiếng là cô giáo đẹp nhất trường Nữ mà.”

Hôm gặp Cung ở bến xe Đà Nẵng-Huế, Cung mừng như một người đã thân quen từ lâu. Mấy lần trước Thúy còn nghi ngờ vì bọn công an hay cấy người làm ăng-ten theo dõi. Nhưng lần này Thúy an tâm bởi tư cách của Cung đã làm nàng hết nghi ngờ. Hôm đó, Cung mời Thúy uống nước ở bến xe, qua nhiều câu chuyện về việc mua bán, thời sự, tình hình tổng quát, Thúy mới thấy Cung là một người chân thật hiểu biết về nhiều lãnh vực.  Mặc dù làm nghề tài xế, nhưng đó chỉ là công việc sinh sống qua ngày trong một xã hội hết sức bất ổn, đảo điên. Hỏi về hoàn cảnh quá khứ và hiện tại, Cung cho biết cũng bị đi “cải tạo” hơn hai năm. Ra ngoài, nhờ giao du quen biết nên xin được chân tài xế gần hai năm qua. Nhờ vậy, Cung quen biết nhiều với giới buôn bán và thỉnh thoảng cũng được ăn chia với bạn hàng.

Hỏi về gia cảnh, Cung đang vui bỗng trở nên buồn:

— Đời tôi là cả một truyện dài buồn đau. Những ngày chạy loạn, đứa con duy nhất của tôi chết trên sà lang khi cập bến Cam Ranh, vợ tôi buồn rầu rồi bệnh liên miên và sau đó vĩnh viễn ra đi vào tháng Sáu năm 1975.

Thúy an ủi Cung:

— Chuyện gia đình anh đau thật, nhưng tôi nghĩ nó cũng nằm trong cơn đau chung của đất nước! Mỗi người có mỗi cơn đau riêng, nếu cộng lại chắc chắn to hơn cả Thái Bình Dương. Nghe nói hồi đó, đồng bào mình chết trên đường xuôi Nam nhiều lắm phải không anh? Gia đình chúng tôi hồi đó kẹt cứng ở đây nên không biết ất giáp gì cả.

Cung thở ra:

— Từ ngày sinh ra cho đến khi trưởng thành, tôi chưa bao giờ nhìn thấy những cảnh thương tâm nào như cuộc di tản vào năm 1975. Cho đến bây giờ, cứ mỗi lần ai nhắc tới là tôi vẫn còn sợ, vẫn còn đau đớn như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua! Giá trị mạng người còn thua cả con vật. Chị biết không? Cả gia đình tôi không còn ai sống sót!

Lòng Thúy se lại:

— Ôi chao!

Cung cúi xuống như muốn dằn cơn xúc động hiện lên trên khuôn mặt chàng:

— Để khi khác có dịp tôi sẽ kể cho chị nghe những câu chuyện rùng rợn, thương tâm của những ngày di tản…

Khi từ giã, Cung mua mấy cái bánh ngọt nhờ Thúy mang về cho hai con Tuấn và Dũng. Thúy nhất định không nhận, nhưng Cung năn nỉ mãi nàng mới chịu:

— Cầm đi chị? Đừng ngại, mấy cháu ăn ngon sẽ làm chị vui lây mà.

Thúy cảm động từ giã Cung ra về. Đến nhà, Thúy thấy quá mệt vì phải suy nghĩ nhiều về chuyện mua bán làm ăn. Nàng thiếp đi cho đến khi hai con đi học về, chúng mừng mẹ và la đói bụng:

— Có cơm chưa mẹ?

Thúy nói trong mệt mỏi:

— Mẹ có mấy cái bánh cho hai con ăn tạm rồi sẽ đi nấu cơm bây giờ.

Tuấn vui vẻ khoe:

— Con được khen là lao động tốt về việc chăm sóc luống rau của lớp học, đáng lẽ được 8 điểm nhưng thầy Hiệu bảo con là con của “Ngụy” nên bị trừ mất hai điểm. Con tức quá định cãi lại, nhưng nghĩ tới mẹ con lại thôi.

Thúy ngao ngán, nhưng vẫn an ủi con:

— Con biết nhịn nhục là điều cần thiết trong giai đoạn hiện tại. Đừng buồn! Trời cao có mắt. Rồi cũng sẽ có một ngày chúng ta sung sướng, sẽ được tự do phát biểu như bao nhiêu người khác trên quả đất này. Điều quan trọng là con phải chăm lo học hành, nên an phận để được bình an lúc nào hay lúc đó.

Tuấn ngây thơ, nhất định lý luận theo lẽ phải:

— Ba là “Ngụy” thì ba bị nhốt tù còn con học giỏi, lao động tốt tại sao lại bị vạ lây? Không công bằng!

Thúy đưa mắt nhìn con trìu mến rồi ôn tồn giải thích:

— Con phải hiểu, sống trong hoàn cảnh của xã hội hiện tại làm gì có công bằng cho những gia đình như mình! Đó là cái đau của mình và hằng triệu gia đình khác nữa! Mai kia khôn lớn con sẽ hiểu. Nếu phải giải thích thì dài dòng lắm. Đôi khi hiểu chuyện rồi sẽ bất lợi cho con khi vào lớp học. Mẹ bảo là phải chịu đựng và kiên nhẫn thì mọi chuyện sẽ qua. Mẹ cũng vì không kiên nhẫn nên mới mất việc hơn tháng nay.

Thúy ôm Tuấn vào lòng rồi nói sang một chuyện khác:

— Có lẽ thời gian sắp tới mẹ có thể vắng nhà, nếu trời tối mà chưa thấy mẹ về hãy đem em lên nhà dì Thịnh nghe con?

Tuấn vẫn nằm yên trong lòng mẹ, tay mân mê mấy sượi tóc rồi nói như đã biết mọi sự sắp đặt của Thúy:

— Mẹ phải đi bán hàng ở xa hả mẹ?

— Mẹ đi mua bán hàng lặt vặt, sáng đi chiều về cũng như hồi còn đi dạy học vậy thôi. Bữa nào xe trễ thì mẹ ở lại, nhưng mẹ chắc sẽ không bỏ tụi con ở nhà một mình đâu.

Tuấn không làm nũng như mọi khi. Biết hoàn cảnh gia đình đang gặp những khó khăn, Tuấn muốn tỏ ra nghe lời, hứa sẽ không bao giờ làm mẹ buồn:

— Mẹ đừng lo! Con biết phải làm gì khi không có mẹ bên cạnh, con sẽ lo cho em. Nếu mua bán có nhiều tiền…

Tuấn ngập ngừng không muốn nói, Thúy xoa đầu con rồi bảo:

— Nói đi. Sao lại làm thinh?

Chỉ vào cái quần rách Tuấn nói:

— Nếu mẹ có tiền, mẹ nhớ mua thêm cho con một cái quần cụt, quần con đang mặc rách lớn quá rồi, không vá được nữa, quần của Dũng cũng vậy!

Thúy nhìn Tuấn lòng bỗng dâng lên một niềm cay đắng xót xa. Mấy năm rồi chúng nó chỉ toàn bận đồ cũ hồi trước còn lại. Thiếu ăn, thiếu mặc đã làm con cái xơ xác như một lũ ăn mày. Tuổi trẻ và cơn đau của dân tộc, biết đến bao giờ mới tìm được con đường sáng! Phải chăng mẹ con nàng đang ở trong hang động của một nơi nào đó bên tận Phi Châu? Viễn cảnh của thế hệ sắp tới thật quá đen tối trong một xã hội bị đóng khung vào hệ thống giáo điều của chủ nghĩa phi dân tộc.

Mớ giáo điều đi ngược với đà tiến hóa của con người ấy đã tạo ra muôn vàn bất công, lo lắng triền miên cho người dân sống trong xã hội. Điều đáng nói nhất là cái tâm lý bất an luôn luôn ám ảnh con người từ bé tới lớn, thử hỏi làm sao trẻ thơ lớn được? Mà có lớn được đi chăng nữa cũng chỉ lớn theo kiểu rập khuôn của nhà nước, của đường lối đảng, chúng lớn lên trong cằn cổi èo ọt từ thể chất đến tinh thần, bởi nỗi khổ chung của xã hội…

Thúy giật mình vì những suy nghĩ miên man về tuổi trẻ:

— Tuần sau mẹ sẽ mua áo quần cho con và Dũng.

Tuấn mừng, theo mẹ xuống bếp vo gạo, nhóm lửa nấu cơm.

oOo

Sáng nay thức dậy thật sớm để lo cơm cháo cho hai con, Thúy vội vã thay quần áo để đến Lan. Mở cánh cửa sổ cho ánh sáng ban mai lọt vào nhà. Từng sợi nắng long lanh chiếu vào bức tường sơn màu trắng ngà voi, tạo thành những hình lập thể loang lổ. Ánh sáng phản chiếu làm căn phòng sáng lên như thắp hàng chục bóng đèn điện 60 watts. Thúy thấy rạng rỡ, một niềm vui chợt đến trong lòng nàng. Thúy bước tới ngắm mình trong tấm gương cũ kỹ, thấy mình gầy đi nhiều so với thời gian trước, chiếc quần tây đã rộng ra vì sút cân. Nhìn vào gương, Thúy mỉm cười, sờ lên má và vuốt lại mái tóc. Lại suy nghĩ vẩn vơ. Nhìn bức hình đám cưới 10 năm về trước, Thúy thấy mình đã đổi thay khá nhiều, nước da bây giờ xanh xao, chắc phải trang điểm một chút cũng nên. Nghĩ vậy nhưng Thúy lại xua đuổi ý nghĩ ấy ra khỏi đầu óc nàng.

Từ ngày Việt Cộng vô đây, Thúy đã bỏ qua chuyện son phấn. Mớ đồ trang điểm vẫn còn đó, những cây son màu hồng, màu đỏ đã khô đi theo năm tháng. Cuộc sống khó khăn từ tinh thần đến vật chất đã làm nàng quên đi tất cả. Nàng vẫn thường nghĩ đã là đàn bà ai lại không có chút phấn son, nhưng từ ngày xa Hãn nàng cũng chẳng muốn làm đẹp nữa. Thế rồi lâu ngày cũng quen đi, cuộc đời mẹ con nàng bây giờ chẳng khác gì những thỏi son khô héo kia!

Lan cũng dậy từ sớm, trang điểm sơ sài. Thấy Thúy đến, Lan rót nước mời Thúy:

— Chị uống nước?

Thúy khen:

— Trông chị hồng hào và còn đẹp lắm.

Lan mỉm cười thầm cám ơn lời khen của Thúy rồi nói lãng qua chuyện khác:

— Đã sẵn sàng ra quân chưa cô giáo?

— Dạ, em nhất định “xuất quân” theo chị.

Cả hai cùng cười, Lan khéo miệng:

— Chị vẫn có cái nét đạo mạo của một cô giáo, trẻ đẹp hiền lành.

— Em cũng đã 33 rồi, còn trẻ gì nữa!

Lan nhìn Thúy để tỏ sự thân mật rồi vào đề ngay:

— Sáng nay chị em mình lên phía phi trường để đón mua hàng từ những người có thân nhân ở quốc ngoại gửi về. Sau đó thì chúng ta sẽ đem xuống chợ bán lại cho bạn bán hàng nằm kiếm lời. Thật ra nói là hàng nằm, nhưng phải gọi đúng tên là hàng chạy, vì bọn công an thường hay nhào tới bất ngờ để tịch thu bất cứ món gì mà họ cho là đồ quốc cấm. Riết rồi mấy bà bán hàng nằm kinh nghiệm đầy mình, họ chỉ để một vài món ở sạp làm mẫu, ai hỏi mua mà họ thấy chắc ăn mới đem hàng ra bán. Kể cũng khổ thật, nhưng dù khó đến mấy bạn con buôn cũng tìm cách để tránh né được cả.

Thúy góp lời:

— Em sẵn sàng, nhưng phải nhờ chị chỉ giáo về giá cả cũng như trị giá của món hàng, bởi em mù tịt. Trăm sự nhờ chị.

— Tôi và chị góp vốn mua chung, lời chia hai chị đồng ý chứ?

Thúy mừng rỡ:

— Được vậy thì quá tốt.

Lan nhắc xe đạp ra sân, đèo Thúy theo sau, nàng đạp một cách khỏe khoắn, vừa đạp vừa nói chuyện liên miên về những món hàng từ Mỹ, từ Âu Châu mà Lan đã mua bán trong hai năm qua. Chị của Lan bán hàng nằm ở chợ Cồn, là nơi tiêu thụ hàng hoá dễ dàng. Nàng kể về mấy chàng bộ đội, cán bộ nhà quê một cục, nhưng lại mê hàng Mỹ và mua lẹ như tôm tươi. Lan cười châm biếm:

— Vậy mà cứ cút Mỹ, chống Mỹ cứu nước loạn cào cào lên. Cút Mỹ rồi theo Nga. Nga thì kẹo như kẹo kéo, thấy đồ đạc của thân nhân ở các nước tư bản gửi về, thèm như đói thèm ăn…tui cũng chẳng biết họ chống cái quái gì nữa đây!

Thúy cũng cười theo cái lý luận giản dị và hữu lý của Lan, nàng lại nhớ tới những ngày trước 75, những ngày di tản loạn lạc. Cũng con đường này, thây người ngổn ngang, biết bao nhiêu chiến sĩ, đồng bào đã bỏ mình một cách tức tửi! Chết oan, chết không nhắm mắt, chết bất đắc kỳ tử… chắc linh hồn họ vẫn chưa siêu thoát. Có người kể lại, ban đêm trên những con đường vắng vẻ người ta thường nghe những tiếng kêu khóc thảm thiết.

Từ khi Cộng sản chiếm trọn miền Nam, họ đã làm được gì cho quê hương dân tộc? Người dân càng ngày càng xơ xác điêu đứng. Lối cai trị độc tài và sắt máu đã làm cho tinh thần mọi người căng thẳng, sa sút một cách khủng khiếp. Những âm mưu xảo quyệt, độc ác, áp bức của cán bộ, của công an, đã đưa dân chúng vào một chân tường không lối thoát. Quê hương đất nước chỉ mới mấy năm “giải phóng” mà nền kinh tế đã bước lùi lại hơn 20 chục năm!

Đã thế, lại còn phải thắt lưng buộc bụng vì vật giá leo thang khủng khiếp, mức độ lạm phát trầm trọng ngoài sự tưởng tượng. Nhà nước bó tay, chẳng làm được một việc gì khả dĩ để ổn định đời sống kinh tế của người dân càng ngày càng đi xuống một cách bi đát trong những năm qua. Chính sách kinh tế tập trung đã thất bại nặng nề ngay từ những bước đầu tiên.

Dân miền Nam đã sống quen với chủ nghĩa tư bản, với đời sống tự do tư hữu. Bây giờ nhà nước áp dụng chính sách mới XHCN với nền kinh tế mới đã làm cho xã hội tê liệt. Trong cơn tuyệt tận, dở sống dở chết, dân chúng vì nơi chôn nhau cắt rốn phải cắn răng chịu đựng sống cho qua ngày. Ước mơ của họ bây giờ là một đổi thay nào đó: một luồng gió, một cơn bão, một hy vọng và sau cùng là… chiến tranh.

Con người vốn chán ghét chiến tranh — nhất là người Việt, trong nhiều thập niên qua họ đã sống trong chiến tranh ly loạn — đã chứng kiến những cảnh chết chóc đạn bay bom nổ làm họ chán ghét như phải ăn mãi một món ăn hằng ngày không thay đổi. Thế nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, người dân lại nghĩ tới chiến tranh, muốn được nghe tiếng súng vọng về từ một nơi nào đó để tưởng tượng sắp có biến động, sắp có một cuộc đổi thay. Bởi vì chỉ có chiến tranh mới có niềm hy vọng đổi thay, dù phải thiệt hại đi chăng nữa thì họ vẫn ao ước, như ao ước trúng một tấm vé số…thật khó, và thật là mong manh!

Người dân bây giờ chỉ có niềm hy vọng đó, làm sao được no ấm, được sống bình an, được một giấc ngủ yên bình không lo sợ! Chỉ chừng ấy thôi, nhưng giấc mơ đó bao giờ mới thành hiện thực!

Từ những suy tư đó, người dân lại sống với nhiều tin đồn: “Quê hương sẽ có một đấng cứu thế xuất hiện để cứu dân Việt ra khỏi cảnh khổ đau nghiệt ngã… hoặc quân đội Mỹ sắp đổ bộ từ các chiến hạm để giành lại tự do dân chủ cho những người bạn khác giống đang sống đọa đày trong một nhà tù khổng lồ… Họ là người bạn đã từng vai kề vai chiến đấu cho chính nghĩa tự do; hoặc có tin đồn quân kháng chiến đã lập thành một tổ chức qui mô để giải phóng quê hương ra khỏi bàn tay sắt máu của tập đoàn Cộng sản”.

Năm ngoái, nghe Tàu Cộng đánh chiếm mấy tỉnh miền Bắc. Trong này phải học tập để sẵn sàng thi đua hy sinh lập công. Những chiêu bài chống xăm lăng lại được đặt ra để tác động tinh thần quần chúng, nhưng trong thâm tâm người dân, có chăng, chỉ là những đóng góp mang tính cách tiêu cực. Sống chết cũng chỉ chừng ấy thôi! Biết đâu giặc giã nổi lên khắp nơi và những đổi thay sẽ xảy ra? Nhưng mà nghĩ cho cùng Cộng Sản vẫn là Cộng Sản! Nga hay Tàu, cũng thế thôi!

Thì ra khi tuyệt vọng, con người thường hay sống với những giấc mơ, dù chỉ là một giấc mơ thật tầm thường, nhỏ bé, nhưng ít ra cũng tạo được một niềm tin, một lối thoát còn lại trong tâm tư để họ tự an ủi, để được sống cho chính mình. Người xưa có câu: “Thắng lòng dân, phá được thành”, nhưng sao Cộng sản không thắng được lòng dân mà vẫn ở trong thành? Tại sao? Câu châm ngôn ấy sai bét rồi sao?

Đang thả hồn lơ lửng theo những suy tư, Thúy giật mình vì Lan thắng xe rồi lên tiếng:

— Mình ngừng ở đây, gửi xe rồi thả bộ đến gần cổng phi trường tiện hơn.

— Dạ tùy chị.

Từ ngày nhập cuộc mua bán với Lan, Thúy đã cố gắng hết mình, nhưng công việc cũng không khấm khá gì cho mấy. Lui tới vận chuyển khó khăn, công an hay theo dõi xét tra để làm tiền, xã hội càng ngày càng thối nát. Hồi xưa tham nhũng có một, bây giờ lên tới cả trăm lần. Không biết họ giải phóng cái kiểu gì mà lạ thế!

Sự cố gắng của Thúy trên lãnh vực buôn bán cũng không đủ ăn qua ngày, may nhờ có Cung thỉnh thoảng giúp đỡ hết lòng mới cầm được hơi để sống. Ban đầu Thúy thấy ngại, nhưng rồi thấy Cung thật lòng Thúy đành chấp nhận. Thêm vào đó, tình cảm giữa Cung và hai đứa con nàng cũng đậm đà như ruột thịt. Cung thường hay lui tới mua sắm và chăm sóc đủ thứ cho Tuấn, Dũng. Vắng Cung mấy ngày là chúng đã nhắc nhở ngóng trông.

Thật sự mà nói, chính Thúy cũng cảm thấy rất gần gũi với Cung, bởi tư cách và tấm lòng của chàng đã gây được một niềm tin ở Thúy. Thúy vẫn thường để ý dò thử nếu Cung có một tình ý nào ngoài cái tình thân bạn bè trong thời gian qua. Nhưng không, Cung vẫn bình thản như những ngày đầu gặp gỡ, chẳng có một cử chỉ hành động nào để Thúy phải bận tâm lo lắng.

Riêng Thúy, nàng quí trọng Cung như một người anh không hơn không kém. Mặc dù Thúy cũng thừa biết, trên cõi đời này giữa những người khác phái khi họ tìm đến với nhau, bình thường đều có những mục tiêu tình cảm trai gái, yêu đương. Xây dựng một tình bạn thuần khiết giữa những người khác phái, nhất là đồng sàng đồng lứa rất hiếm. Bởi khi đã thân nhau thì họ yêu nhau mất rồi. Thế nhưng, Thúy cũng hy vọng chuyện tình cảm của Cung đối với mẹ con nàng sẽ ở trong một trường hợp đặc biệt. Rồi Thúy cũng tự lý luận, đặc biệt ở chỗ nào? Mục tiêu của Cung có đơn giản như thế hay không? Lý luận thì nàng vẫn lý luận, nhưng đứng trước hoàn cảnh bi đát hiện tại, Thúy biết làm gì bây giờ?

Cung thường hay hỏi han về Hãn và nhắc nhở nếu có dịp nên đi thăm chàng. Ở Cung, nếu thật sự anh ấy có tình ý gì đi nữa, chàng vẫn là một người đàn ông cao thượng. Thời gian qua Cung đã chứng minh được điều đó, ít ra cũng đã làm Thúy khâm phục hết mình.

Một hôm Cung hấp tấp đến nhà Thúy vào lúc nửa đêm, kể lại chuyện mà chàng đã sắp xếp trong thời gian qua cho Thúy nghe. Cũng vì lý do bảo mật nên Cung đã giấu kín cho đến giờ phút chót, đó là vấn đề chính mà Cung muốn trình bày và mong muốn Thúy thông cảm. Cung nhìn Thúy rồi nói nhỏ:

— Tuấn và Dũng ngủ chưa?

— Dạ rồi.

— Đã lâu rồi, tui giấu chị, bởi nó quan trọng, nguy hiểm. Vả lại, cũng chỉ là một dịp may mà thôi.

— Chuyện gì mà quan trọng vậy anh?

Cung nói thật nhỏ vào tai, Thúy tái mặt lo lắng:

— Đây là một việc trọng đại, Thúy cần phải cho anh ấy biết để quyết định.

Cung thở ra một cách nuối tiếc:

— Thời gian không cho phép, và chị nhớ cho đây là dịp may ngàn năm một thuở, chị phải quyết định vào chiều mai. Nếu ngày mai chị không đến cho tôi biết thì đây là lần cuối cùng tôi gặp chị và hai cháu.

Thúy nửa vui mừng, nửa lo sợ:

— Thúy cũng có nghe người ta đi nhiều lắm, nhưng gia đình Thúy lấy đâu mà chi cho nổi? Còn nữa, làm sao cho anh Hãn biết!

Thúy lại nghĩ tới Hãn. Cung chắc lưỡi, rồi nói thật nhỏ:

— Một người bạn tốt, cùng đơn vị hồi xưa làm chủ tình hình. Ba mẹ con chị Lan phải lo một ít, tui cũng bỏ vô một ít. Người bạn đó hứa cho tôi 3 chỗ, khi xong chuyện rồi sẽ thanh toán sau, nhưng tôi yêu cầu thêm một chỗ và cuối cùng anh ấy chịu. Nghĩa là ba mẹ con chị và tôi nằm chung một gia đình.

Cung đốt điếu thuốc, hít một hơi thật dài rồi tiếp:

… Còn chuyện thông báo cho anh Hãn tôi nghĩ là không thể được dù gián tiếp hay trực tiếp. Tôi chắc là anh ấy sẽ không trách chị đâu.

Thúy cảm động trước tấm lòng thành thực của Cung, nhưng vẻ bối rối đã hiện rõ trên khuôn mặt nàng. Cung dặn đi dặn lại mấy câu rồi từ giã ra về:

— Thúy nhớ không được tiết lộ với bất cứ một ai, kể cả con chị. Lộ ra không những chị bị nguy hiểm mà chúng tôi mấy chục mạng cũng tiêu tùng thì khốn.

Thúy đưa Cung ra cửa, ngó trước nhìn sau rồi nói thật nhỏ vào tai Cung:

— Xin đa tạ lòng tốt của anh, thế nào chiều mai Thúy cũng quyết định. À mà nếu Thúy quyết định đi thì phải mang theo những gì?

Cung đáp ngay:

— Vài bộ áo quần, càng ít càng tốt, có thực phẩm thì tốt…nhưng mà cũng không cần vì bọn tui đã sửa soạn hết rồi, chỉ cần mọi sự êm xuôi là được.

Suốt đêm hôm đó Thúy đã không ngủ được, suy nghĩ đắn đo mãi mà vẫn không tìm ra một đáp số. Ra đi, biết rằng Hãn sẽ bằng lòng, nhưng làm sao để kịp thông báo cho chàng? Một lý do khác nữa là không biết đi có bình an, bể lặng sóng êm, tới được bến bờ tự do hay không?

Người ta đã ra đi nhiều lắm rồi. Ai cũng muốn đi cả, có cơ hội là đi, ngay cả cột trụ đèn nếu đi được nó cũng đi. Nghe người ta nói rằng, ra khỏii hải phận quốc tế sẽ có tàu Mỹ vớt, rồi sau đó đi định cư và sẽ có một đời sống yên ổn tự do. Thỉnh thoảng Thúy cũng nghe chị Lan nói rằng có người ra đi chưa đầy một năm mà đã gửi về hàng chục kí lô hàng để nuôi bà con thân thuộc. Những tin đồn vượt biển được rỉ tai khắp nơi. Công an cũng đang theo dõi ráo riết để chụp những nạn nhân sơ hở, bởi vậy cho nên chẳng còn ai tin ai cả. Thúy lại tưởng tượng tới một chân trời vô định làm nàng muốn run lên như đang gặp phải một cơn gió lạnh bất ngờ.

Ở lại,  vì Hãn, kéo lê những chuỗi ngày trên mảnh đất đầy áp bức khốn khổ này, Thúy có chịu nỗi nữa không! Vả lại, tương lai con cái sẽ đi về đâu trước một xã hội nhiễu nhương đầy dẫy bất công!

Cứ thế mà Thúy suy nghĩ đến đau đầu, ruột gan nàng cứ bồn chồn như lửa đốt. Lại nữa, vấn đề tình cảm của Cung? Ra đi đến nơi một phương trời xa lạ, biết nàng có chiến đấu nổi để duy trì một tình bạn đơn thuần giữa Cung và nàng hay không? Đầu óc nàng lùng bùng như đang ở trong một trạng thái bất ổn.

Bất chợt Thúy nghĩ ra một giải pháp đó là lên bàn thờ cầu nguyện rồi sẽ viết lên hai mảnh giấy: đi và không, nàng sẽ chọn một trong hai. Nhưng mà như vậy có vẻ châm chày may rủi quá! Chắc chắn là phải suy nghĩ, tính toán thật kỹ mới được! Bây giờ còn ai để mà hỏi han ý kiến! Chỉ có Hãn, nhưng làm sao đây! Thúy suy nghĩ… thở dài.

Thật sự xưa nay, Thúy vẫn thường bài bác về việc dị đoan, nhưng đứng trước một quyết định khó khăn như hiện tại nàng mới thấy việc cầu nguyện và nhờ ơn trên giúp đỡ để giải quyết một vấn đề trọng đại là cần thiết. Chính bây giờ nàng mới thấy sự rủi may nhiều khi đều do ý Trời sắp đặt, một khi nghị lực và sự can đảm không còn nằm ở trong tầm suy nghĩ của trí óc. Thôi đành chịu vậy, thử coi!

Thúy dậy sớm, tắm rửa sạch sẽ, thắp hương lên bàn thờ và cầu nguyện. Thúy nhớ ngày xưa mẹ nàng cũng thường cầu nguyện khi gặp những chuyện khó khăn. Mẹ thường đứng trước bàn thờ thẩy hai đồng tiền để xin keo. Mẹ nói, nếu ơn trên chấp thuận thì được một đồng sấp, đồng ngửa và chỉ xin một lần mới tốt, quá lắm là ba lần.

Thúy bây giờ không dùng hai đồng tiền, nàng lấy hai mảnh giấy viết vào hai chữ đi và không, vo tròn rồi để vào cái ly đặt lên bàn thờ và tiếp tục cầu nguyện.

Nửa tiếng đồng hồ trôi qua, tay Thúy run run đặt lên bàn thờ và chọn mảnh giấy trong hồi hộp lo lắng. Đầu óc nàng hình như hoàn toàn đứng ở một ngả ba đường, bởi lẽ đây là lần đầu tiên nàng giải quyết một vấn đề trọng đại sống chết mà phải nhờ tới sự linh thiêng.

Thúy định mở mảnh giấy ra ngay, nhưng lại nghe như có tiếng động ở cửa. Thúy sợ, bỗng dưng nàng cảm thấy sợ, lại bỏ mảnh giấy vào ly, tiến ra cửa trước và lên tiếng:

— Ai?

Không có tiếng trả lời. Thúy hé cửa xem có ai đang rình mò. Nhưng không, không một tiếng động. Yên lặng, Thúy chỉ nghe được tiếng gà gáy rất xa.

Cài lại then cửa cho chắc ăn, Thúy trở lại bàn thờ và để tâm vào việc cầu nguyện. Lần này Thúy lâm râm cầu xin mẹ nàng, nếu linh thiêng hãy giúp nàng quyết định. Thúy đốt thêm nhang rồi chọn một trong hai mảnh giấy. Thúy tự trách mình thật vớ vẩn.  Sao lại sợ? Sợ ai? Đúng là có tật giật mình. Lãng nhếch.

Nàng thở ra, mặc dầu đã phó mặc cho ý Trời quyết định, đã đặt hết niềm tin vào sự thiêng liêng, nhưng sau khi chọn được chữ “đi”, nàng vẫn còn mâu thuẫn, bởi đó là cái mâu thuẫn tự nhiên của con người trước sự khó khăn được xếp vào loại phiêu lưu thập tử nhất sinh. Thì ra, tâm trạng chung của người Việt là thế, có ai ao ước ra đi để tha phương cầu thực, để lìa bo xóm làng thân thương. Phải bất đắc dĩ lắm họ mới chọn con đường lìa bỏ quê hương, sống trong nỗi chết!

Thế nhưng chuyện đã rồi, nghĩa là Thúy đã quyết định ra đi theo Cung. Hồi hộp, lo lắng đủ điều chợt đến thật nhanh trong tâm hồn nàng. Trời đã sáng, Thúy loay hoay đánh thức hai con dậy và bảo chúng ở nhà khỏi cần đi học. Hai đứa nhỏ ngạc nhiên, nhưng nàng giải thích là sửa soạn để đi về thăm nội. Dặn dò xong, Thúy định đi ngay đến nhà chị Thịnh để hỏi ý kiến sau cùng, nhưng chợt nhớ tới lời dặn của Cung đêm qua, Thúy đổi hướng đi nhanh đến nhà Cung.

Gặp Thúy, Cung mừng rỡ:

— Chị đã quyết định đúng lúc. Đừng lo, cứ bình tĩnh như không có gì xảy ra cả. Tôi và chị Lan đã lo hết rồi, nếu biết chắc chị đi, chị ấy cũng mừng lắm. Thôi về sửa soạn chút ít đồ đạc, 10 giờ tối nay tôi sẽ đến rước chị.

Thúy như người lạc hồn. Nghe rồi! Nghe tất cả, nghĩa là tối nay nàng sẽ quyết định một chuyến đi trọng đại trong cuộc đời nàng:

“Lìa bỏ quê hương!”

Thế là tối đó Thúy đã làm một chuyện phiêu lưu mà chính nàng cũng không nghĩ mình có thể quyết định được. Lìa bỏ ngôi nhà thân thương đã chôn chặt biết bao kỷ niệm với Hãn. Lìa bỏ con đường, lối xóm quen thuộc đi về trong bao nhiêu năm qua đã làm cho Thúy không cầm được nước mắt. Trên đường đi đến điểm hẹn bên kia vùng An Hải, tâm tư nàng rối loạn một cách khó tả. Ray rứt, lo sợ và mâu thuẫn lại bò dậy như một thách thức. Thúy tự trấn an: “Hãy cố gắng bình tĩnh. Quyết chí! Phải có nghị lực, can đảm và chấp nhận.”

Lại nghĩ đến Hãn. Giờ này chàng đang làm gì ở trại “cải tạo”? Chàng có biết là Thúy sắp vĩnh viễn xa chàng không? Xa Hãn gần sáu năm rồi, nhưng dù sao Thúy vẫn cảm thấy còn gần, bởi nếu chạy được tiền thì cũng có thể đi thăm chàng, hoặc biết đâu một ngày nào đó Hãn sẽ được thả về. Nhưng bây giờ thì khác, Thúy sẽ ra đi vào một phương trời xa lạ, biết đến bao giờ mới gặp lại chàng! Định mệnh sao lại khắc nghiệt như thế này!

Trong cơn xúc động, Thúy ứa nước mắt. Tuấn, Dũng không biết chuyện gì xảy ra, tụi nó cũng khóc theo. Cung phải an ủi và khuyên nhủ hết lời Thúy mới cầm được nước mắt:

— Hãy bình tĩnh đi chị, chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn. Điều quan trọng trong giờ phút này là phải thật bình tĩnh, bình tĩnh để tạo niềm tin, bình tĩnh để phấn đấu với những khó khăn trên con đường mà chúng ta đang thử thách, bước tới và không bao giờ lùi.

Trời tối như mực, một số người lô nhô tại điểm hẹn, họ xuống thuyền trong im lặng. Thúy nhận ra Lan và nắm lấy tay nàng lay mạnh biểu lộ tình thân, một chút an tâm trổi dậy trong lòng. Nàng nghĩ, ít ra cũng còn có thêm bạn đồng hành ngoài Cung.

Thuyền ra khơi, mấy người đàn ông chèo bằng tay. Có lẽ họ sợ tiếng động tạo chú ý cho những chiếc tàu tuần của bọn bộ đội biên phòng. Không ai bảo ai cả, nhưng mọi người đều im lặng…im lặng… Thúy nghe được tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền, có cảm giác như ai nấy đều nín thở. Bỗng có tiếng một đứa bé bật khóc ở đầu mui thuyền, xé tan sự im lặng của mấy chục người. Có tiếng người lớn nói như một mệnh lệnh:

— Bịt miệng nó lại ngay tức khắc. Chết hết cả đám bây giờ!

Có lẽ người mẹ đã bịt miệng, không còn nghe tiếng khóc nữa. Tội nghiệp cho đứa bé phải hít thở bằng mũi. Lại có tiếng người đàn ông khác cất lên:

— Tất cả ngồi sát vào nhau, cúi đầu xuống, tàu tuần của bọn nó đang tiến tới.

Thúy cố nhướng mắt liếc ra xa, có ánh đèn pha đang xoay vòng làm sáng rực cả một vùng biển mênh mông. Cung nói thật nhỏ vào tai Thúy:

— Đừng lo, tụi nó chiếu đèn pha để kiểm soát hải phận dài dài như vậy. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng mấy tháng nay rồi.

Chuyến Vượt Biển Kinh Hoàng – biển xưa

Thúy ôm hai con vào lòng cầu nguyện. Lại có thêm một ánh đèn chiếu lại từ một hướng khác. Thúy thấy cũng còn xa lắm, nhưng nàng vẫn cảm thấy lo sợ. Nàng thầm nghĩ: nếu có chuyện chắc chết! Trong một thoáng giây, Thúy lại nghĩ đời người chỉ một lần chết. Chết là hết! Chết thì chết! Có nghĩa gì nữa! Chết là xong một đời người, thế thôi!

Thuyền vẫn lướt sóng nhẹ nhàng với các tay chèo. Tiếng sóng rào rạt vỗ vào thành tàu nghe thật rõ, tiếng thở của Tuấn nghe dồn dập. Bỗng có tiếng giựt máy nổ từ buồng lái làm mọi người giật mình. Có tiếng người nói một cách khẩn thiết:

— Ráng lên… dọt?

Tiếng máy nổ thật lớn, con tàu lướt nhanh tạo ra hai hàng sóng lờ mờ ở phía sau. Thúy có cảm giác như mũi tàu đang nâng lên cao. Ánh đèn pha vẫn quay về hướng tàu. Lại một ánh đèn từ hướng khác đang tiến lại. Thúy thở ra, nói một mình:

— Hy vọng đã tiêu tan!

Hình cảnh một trại tù và cảnh những tên cán bộ công an lại hiện ra trước mắt nàng. Ai sẽ nuôi con? Làm sao các con sinh sống khi nàng phải vào tù. Gần đây, Thúy cũng nghe nhiều người ra đi và bị bắt. Có người đang bị nhốt chung với tù chính trị, có người bị nhốt riêng và họ bị đối xử rất tàn nhẫn.

Người ta cũng đồn rằng bọn công an đục khoét những gia đình vượt biển để làm tiền. Có vàng thế chân là có thể ra, bởi vậy nhiều người bị bắt tới hai ba lần mà vẫn sống phây phây nhờ có tiền bạc chạy cho bọn công an.

Còn Thúy, không có tiền ăn lấy đâu ra mà chạy chọt! Chỉ có nước đi tù rục xương. Thằng cha Dực công an chìm tha hồ trả thù! Trong một phút suy tư bấn loạn, một ý nghĩ liều lĩnh chợt đến xâm chiếm đầu óc nàng. Nếu lỡ họ đuổi kịp, Thúy sẽ ôm cả hai con nhảy xuống biển là xong. Chết là hết, trả con người về với sắc không, chết rồi chỉ là một cái xác khô lạnh. Có ai tránh được cái chết trong một đời người! Thế Thôi! Nhất định Thúy sẽ làm như vậy. Chắc chắn như vậy, can đảm, can đảm, hy sinh và hy sinh?

Thì ra, khi con người đã hết đường thoát, cái chết đối với họ đã trở thành tầm thường, chết là một giải thoát, là một phần trong tiến trình của sự sống. Bình thường, con người ham sống sợ chết, nhưng cũng tùy theo hoàn cảnh để có thể đo lường ý chí và dũng khí khi họ bị dồn vào chân tường. Có ở trong hoàn cảnh khốn cùng của cuộc sống mới thấy cái giá trị về sức chịu đựng con người.

Lại có tiếng nói như một mệnh lệnh:

— Tăng thêm tốc lực! Tăng tối đa!

Bỗng có tiếng súng nổ hòa lẫn với tiếng máy tàu. Những tràng đạn liên thanh xé tan hy vọng sống còn của cuộc vượt thoát. Thôi hết rồi! Họ đã thấy và họ đang rượt bắt đoàn người muốn đánh đổi mạng sống của mình cho tự do. Thúy nghĩ, hết rồi! Hối hận! Đã đưa hai con vào tuyệt lộ! Như vậy sự cầu nguyện và cầu xin từ tối qua không linh nghiệm hay sao? Không! Mẹ ơi! Chết là cùng! Chết còn sướng hơn là bị đày đọa!

Có tiếng gọi tên Cung rồi chửi thề:

— Cung ơi! ĐM tụi nó đã phát hiện mình rồi!

Có tiếng thúc giục:

— Chạy về hướng phải, vứt bớt đồ đạc cho nhẹ tàu!

Một luồng ánh sáng lờ mờ của cây đèn pin rọi vào boong tàu. Có tiếng người trả lời:

— Biết liệng cái mẹ gì bây giờ! Gạo? Nước? Cả hai đều cần cả.

— Cái gì thấy nặng thì vứt lẹ lên!

Có tiếng cãi lại:

— Vứt xuống rồi chết đói chết khát trên biển cũng thế thôi! Không được! Không được! Đàng nào cũng chết! Nhất định phải trốn thoát! Chắc gì tụi nó đuổi kịp mình!

Lại có tiếng đạn bay vèo vèo trên không. Lâu lắm rồi Thúy không nghe tiếng súng, bây giờ nghe tới cái âm thanh giết người ấy đã làm nàng run lên cầm cập. Phản ứng tự nhiên, Thúy đè đầu hai đứa nhỏ xuống. Nhớ hồi còn đi học, mỗi lần nghe tiếng súng, hoặc nghe tiếng pháo kích của Việt Cộng, thay vì bò xuống gầm giường, hay trốn vào một góc nào đó, Thúy lại nằm yên trên giường trùm mền làm cả nhà ai cũng cười.

Nghe tiếng súng Cung cũng bối rối nhưng lại trấn an nàng:

— Tụi nó chắc đã thấy mình, nhưng đuổi không kịp nên bắn hoảng vào vùng biển vậy thôi.

Thúy lại nghĩ, anh Cung này hay thật, lúc nào cũng bình tĩnh và tự an ủi lấy mình dù trong cơn tuyệt vọng. Tiếng chị Lan cầu nguyện nghe thật rõ. Thuyền xả hết tốc lực, rẽ sóng lướt đi trong sự may rủi của biển trời, phó mặc cho định mệnh đẩy đưa…

oOo

Phải mất hơn một tuần, Cung, Tuấn, Lan, và bé Lớn, bé Nhỏ con của Lan mới lấy lại được sức. Sau khi vượt khỏi lằn đạn của bọn công an biên phòng trong đường tơ kẽ tóc, chiếc tàu chở hơn 40 chục mạng người lại gặp phải cơn bão dữ dội tàn phá. Tàu hỏng máy phải lênh đênh trên biển hơn 15 ngày, hết thực phẩm, nước uống, đã làm thiệt mạng mấy người trên tàu, trong đó có Dũng con của Thúy.

Khi làm lễ cầu nguyện để thủy táng con, vì chịu không nổi những đớn đau về tinh thần, Thúy đã lâm trọng bệnh cho đến khi được một tàu buôn cứu vớt và đưa vào Hồng Kông.

Thúy được vào bệnh viện cấp cứu, nàng khi tỉnh khi mê đã hơn 10 ngày. Những lúc tỉnh, nàng thường gọi tên con rồi khóc, thỉnh thoảng nắm lấy tay Cung van xin hãy cứu con nàng. Bác sĩ cho biết ít nhất cũng phải một tuần nữa Thúy mới bình phục về sức khỏe, còn vấn đề tâm bệnh không biết sẽ ra sao, bởi vì nàng kiệt sức và tổn thương tinh thần trầm trọng.

Một tuần sau, Thúy mới ngồi dậy được, nàng đã có phần tỉnh táo hơn. Bây giờ thì nàng đã nhận ra Tuấn, Cung và những người chung quanh. Lâu lâu nhớ lại hình cảnh của Dũng chết trên tàu, nàng lại khóc vùi và tự trách mình đã quyết định một việc liên quan đến cái chết của con.

Mỗi lần nghe mẹ khóc, Tuấn cũng khóc theo, nhưng lại an ủi mẹ như một người lớn. Lớn lên trong chiến tranh, trong khổ đau cùng cực, Tuấn đã khôn trước tuổi.

Trẻ con bây giờ là như vậy, vào lớp học với cô thầy, phải đóng vai tuồng ca tụng nhà nước, ca tụng chế độ, cái gì cũng phải đầu môi chót lưỡi, nghĩa là phải diễn tuồng hằng ngày ở trường học.

Về nhà mới chính là con người thật, bởi nó đã ra khỏi vở tuồng, ra khỏi những giả dối mà tuổi thơ phải vận dụng não bộ cho thích hợp với hoàn cảnh sống quá sớm. Nghĩ mà tội nghiệp cho tuổi trẻ phải chịu đựng để làm một lúc hai con người khác nhau! Vì thế cho nên trẻ con bây giờ khôn ngoan hơn thế hệ trẻ trước nhiều. Nếu nhìn trên một khía cạnh khác, người ta có thể cho rằng trẻ con đã bị ảnh hưởng quá nhiều trong vai tuồng mà chúng nó bắt buộc phải đóng hằng ngày nên sinh ra lém lĩnh lường láo…

Thật ra, hoàn cảnh đã tạo nên những cái lém lĩnh đó, phải chăng là cơn đau chung của dân tộc! Mất mát, tan nát, lụn bại, tang thương! Tuổi trẻ đang bị người ta đầu độc để rồi quăng chúng nó vào sọt rác, vào một ao tù tanh hôi! Cả một thế hệ trẻ đang bị dập vùi, đang là nạn nhân của một chế độ, đáng tội nghiệp hơn là đáng trách.

Cung thì tối ngày lo túc trực tại bệnh viện, đút từng miếng cháo, nâng từng ly sữa, khuyên giải Thúy cố gắng cho mau bình phục để còn sửa soạn làm thủ tục giấy tờ đi định cư.

Ngày hôm sau, Cung phải lên Cao ủy Liên Hiệp Quốc để khai lý lịch.  Sau khi khai sự liên hệ của mẹ con Thúy, chàng cảm thấy nuối tiếc vì nếu khéo léo hơn chút nữa và biết hỏi sơ qua về cách khai của những người đi trước có kinh nghiệm, thì chắc mẹ con Thúy có thể được đi định cư một lượt với chàng. Thế nhưng, vì quá thật lòng khi đi làm thủ tục, chàng đã khai thật. Gia đình chị Lan bà con chú bác, mẹ con Thúy là bạn thân và chàng là người độc thân, cựu sĩ quan QLVNCH. Do đó, theo các nhân viên nhận lý lịch, chàng sẽ đi định cư trước vì được xếp vào loại ưu tiên một. Gia đình Lan, Thúy sẽ được lần lượt cho đi theo thứ tự ưu tiên nếu có người bảo trợ.

Rồi Thúy cũng bình phục nhanh chóng nhờ các bác sĩ ở bệnh viện chăm sóc tận tình và nhờ ở sự khuyên giải, an ủi, lo lắng hết mình của Cung và Lan. Thế nhưng, Thúy vẫn buồn rầu và ân hận vì đã mất đi một đứa con trai trong chuyến vượt biển đầy gian nan nguy hiểm.

Từ ngày đặt chân lên Hồng Kông, Cung đã trở thành một người thân nhất của gia đình Thúy. Thúy không muốn so sánh chàng với một ai cả, bây giờ trên đất lạ chỉ còn Cung, một người mà cho đến bây giờ Thúy vẫn không nghĩ ra chàng sẽ đóng vai gì trong cuộc đời lưu lạc của nàng? Những đêm buồn và rảnh rỗi, họ thường bên nhau tâm sự, thỉnh thoảng cũng bàn về chuyện tương lai một khi được vào đất Mỹ định cư. Có nhiều lúc Thúy bắt gặp ánh mắt trìu mến của Cung mỗi lần họ gần nhau hoặc trong những bữa cơm chiều, Cung thường tỏ ra những cử chỉ chăm sóc của một người tình vừa mới chớm nở thì đúng hơn. Những lần ngồi viết thư, Cung thường góp ý kiến là đừng nên báo tin cho Hãn biết về cái chết của Dũng. Chàng lý luận không nên tạo những đớn đau bất ngờ cho người ở lại. Dù muốn dù không thì Dũng cũng đã chết, sau khi ổn định đời sống rồi cho Hãn biết cũng chưa muộn. Cung đề nghị nên viết thư về cho mẹ Hãn và thông báo đã đến miền đất tự do an toàn là điều cần thiết.

Cái chết của Dũng đã làm tâm hồn Thúy ray rứt khó nguôi. Mất Dũng, nàng có cảm giác như mất đi một phần thân thể trong cuộc đời còn lại của nàng. Nàng thường tự hỏi không biết sẽ nói sao với Hãn khi gặp lại chàng. Nhiều đêm Thúy nằm mơ thấy Dũng hiện về than khóc, Thúy thường thắp nhang khấn vái cho hương linh con siêu thoát, phù hộ cho Hãn mau ra khỏi tù, cho Tuấn và Thúy bình an trong những ngày lưu lạc nơi đất khách quê người.

Một sáng Chủ Nhật, Thúy kể chuyện nằm mơ thấy Dũng hiện về cho Cung nghe và bảo chàng đưa Thúy ra bờ biển để khấn vái:

— Chiều nay Thúy muốn ra bờ biển để thăm Dũng?

Cung nhìn Thúy và nói một cách thành thật:

— Sáng nay anh định sẽ đi lên nhà thờ cầu nguyện cho Dũng và buổi chiều thì đưa mẹ con Thúy ra bờ biển.

— Cám ơn anh đã nghĩ đến ngay cả đời sống tâm linh cho con Thúy. Chiều nay em sẽ ra bờ biển cầu xin Phật A Di Đà độ trì cho hương linh Dũng siêu thoát.

Cung phụ họa:

— Như vậy là Dũng tốt số, Có cả Phật lẫn Chúa phù hộ cho cháu siêu thoát lên Thiên Đường.

Thúy không nói, khuôn mặt nàng trở nên buồn thảm. Cung yên lặng nhìn Thúy và cũng cảm thấy đau thắt ở tâm hồn chàng. Chàng tự trách mình là đã mang lại cái chết của Dũng:

— Cũng tại anh cả!

Buổi chiều Thúy mua một bó nhang, dắt Tuấn theo Cung ra bờ biển. Họ chọn một nơi vắng vẻ ít người. Thấy biển, thấy nước, nhìn bầy chim hải âu bay lượn gọi nhau tìm mồi là Thúy đã rớt nước mắt. Đốt nhang, khấn vái và lặng lẽ nhìn sóng biển lô nhô, lòng nàng chùng xuống. Hình cảnh Dũng chợt xuất hiện trong đầu óc nàng như một khúc phim sống, với đôi môi khô cháy, phều phào trong hơi thở sau cùng của nó! Mất mát khổ đau! Đời người quả thật quá ngắn ngủi! Con nàng mới đó với nụ cười hồn nhiên của một đứa trẻ ngây thơ vô tội! Nhưng ai biết, một ngày, một giờ, một phút nó đã chết vì đói vì khát! Nhớ tới hình cảnh đó Thúy khóc ngất.

Tuấn ngồi yên lặng trên một mõm đá, thấy mẹ khóc, Tuấn cũng khóc theo. Cung cảm động, không thể giữ được nước mắt, chàng tiến lại, nắm tay Thúy an ủi vỗ về. Tiếng khóc càng lúc càng lớn hơn, hòa lẫn trong tiếng sóng xô đẩy ầm ầm đua nhau đập vào bờ, nhưng bờ đá vẫn nằm yên như trơ gan chịu đựng, như sự chịu đựng triền miên của con người trước những hoàn cảnh đau thương bi đát. Nhìn ra xa là những thương thuyền lui tới tấp nập, đại dương dường như vẫn vô tình với những con người đang đau khổ, đang vắt những giọt nước mắt đắng cay vào biển cả mênh mông!

Cung đỡ Thúy đứng dậy, choàng vào vai nàng, trong một thoáng giây, chàng cảm thấy rung động. Hơi ấm từ thân thể nàng phát ra như một hấp lực khó diễn tả. Lấy khăn tay lau những giọt nước mắt cho Thúy, nhìn chăm chú vào khuôn mặt trái xoan, hiền hậu, nước da trắng mịn, Cung muốn liều lĩnh cho nàng một nụ hôn, muốn ôm nàng vào lòng và muốn nhiều lắm! Nhưng chàng lại thôi, xua đuổi cảm giác yêu đương ấy đi.

Đến Hong Kong chưa đầy hai tháng mà Thúy đã mau lại sức, nhờ ăn uống khá đầy đủ, Thúy lên cân vù vù và đẹp hẳn ra. Những bộ quần áo của Cao ủy cho đã làm Thúy đẹp nhiều hơn, mặc dù nàng vẫn buồn rầu vì cái chết của Dũng.

Đàn bà rất nhạy bén, Thúy dư biết tình cảm của Cung mỗi ngày một lớn dần, thế nhưng nàng vẫn cố tránh né, cố dằn những xúc động mỗi khi ở bên Cung. Chính Thúy đã thay đổi cách xưng hô, nàng xưng em và Cung đã xưng bằng anh lúc nào họ cũng không hay. Bất chợt, Thúy lại nghĩ tới Hãn, sự ra đi của nàng khi Hãn vẫn còn trong trại “cải tạo” là một điều quấy. Dĩ nhiên là thế, không thể ngụy biện được. Dù đã có lý do chính đáng chăng nữa, lương tâm vẫn cắn rứt không thể tự lý giải thích được!

Nhưng rồi, lắm lúc nàng cũng tự an ủi bởi cuộc sống của mẹ con nàng đã tới đường cùng. Ở lại giúp được gì cho Hãn! Tối ngày lo chạy gạo cho con cũng chưa xuể. Cuối cùng nàng nhất quyết hứa với lòng mình sẽ cố gắng nuôi con sinh sống, dành dụm gửi tiền về cho chị Thịnh để lo cho Hãn được ngày nào hay ngày ấy, biết đâu sẽ có một ngày đoàn tụ.

“Hứa đi? Hứa phải làm đúng với lương tâm. Mẹ đã chết, mẹ vẫn buồn Thúy ơi!” Thúy nói thầm một mình.

Tuy Thúy cũng biết chuyện tình cảm của Cung đã đến hồi kịch liệt, nhưng nàng vẫn một lòng với Hãn. Nhiều lúc nàng cũng tự hỏi, nếu Cung tấn công tình cảm trong thời gian khó khăn này liệu nàng có chạy trốn được không? Nếu chàng mạnh dạn hơn chút nữa trong những ngày cô đơn trên đất lạ như thế này thì Thúy có cưỡng lại được không? Một điều rất may là Cung bao giờ cũng kín đáo, tế nhị, chàng chưa xa gần một câu nào cả, mà chỉ tỏ ra cử chỉ ân cần săn sóc cho mẹ con nàng.

Bây giờ họ đã biết là không được cùng đi định cư một lượt. Cung sẽ đi trước vào tháng tới, gia đình Thúy và chị Lan chưa có thời gian ấn định. Trên đất lạ không người thân thuộc, Cung và Thúy trở nên tâm đầu ý hợp hơn. Chị Lan cứ trách Cung sao không khai đại Thúy và Tuấn là vợ con ngay từ khi thuyền cập bến. Dù là man khai, nhưng ít ra cũng giải quyết được một gia đình. Còn hơn mai mốt, khi Cung đi rồi thì cả hai người đàn bà và ba đứa con dại chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.

Nghe chị Lan bàn đến chuyện này, Thúy làm thinh không phản ứng, chỉ nhìn Cung và nói lơ qua chuyện khác. Cung cho rằng đã lỡ vì không có kinh nghiệm trong việc khai báo. Vả lại, hồi đi khai lý lịch Thúy đang còn trên giường bệnh, lỡ ra nàng không bằng lòng rồi khai lung tung lại gặp chuyện bất tiện cũng không chừng, nếu không muốn nói sẽ gặp rắc rối là đàng khác. Hơn nữa Thúy còn Hãn, biết đâu một ngày nào đó họ cần có lý lịch liên hệ gia đình để xin đoàn tụ.

Đêm hôm ấy, Thúy và Cung đã thức gần tới sáng vì ngày mai Cung phải chia tay đi Mỹ định cư. Cả gia đình chị Lan và Thúy băn khoăn lo lắng, không biết rồi tương lai ra sao khi Cung ra đi! Cung thì lo trấn an, hứa qua Mỹ sẽ cố gắng làm việc ngày đêm, dành dụm tiền bạc để lo việc bảo trợ cho gia đình Thúy và chị Lan. Chị Lan đứng ngồi không yên, hết thở ra rồi bóp trán suy nghĩ.

Buổi sáng chia tay, mấy đứa nhỏ khóc sướt mướt làm chàng không muốn rời bước. Tuấn ôm lấy Cung không chịu buông. Chị Lan nắm tay Cung dặn dò đủ thứ, còn Thúy, nước mắt rưng rưng, muốn quay mặt nơi khác để che giấu tình cảm đang thách thức trong lòng nàng.

Buổi chia tay nào mà không buồn, nhất là hoàn cảnh của những người Việt tị nạn, ai cũng muốn tiễn đưa, cũng muốn nhắn nhủ đừng quên những người đang còn ở lại. Tình cảm của dân tị nạn rạt rào đầy ắp tâm hồn, bởi họ thường quấn quýt bên nhau.  Xét trên phương diện tâm lý khi cùng chung một cảnh ngộ buồn vui lo lắng về một tương lai vô định, nghèo khổ, con người thường thể hiện tình cảm nhiều hơn, thương nhau hơn. Nhưng một khi giàu có, vì quyền lợi nên lòng tham lại nổi lên và sự khắng khít đùm bọc nhau cũng biến mất vì vật chất, vì danh vọng lôi cuốn.

Cung nắm chặt tay nàng và trong cơn xúc động mãnh liệt, chàng đã ôm Thúy vào lòng. Thúy không còn cựa quậy, nhịp tim bỗng dưng đập mạnh, nàng cảm thấy thân thể như bị Cung nhấc bổng lên không. Nàng ao ước được Cung buông ra.

Cung nói thật nhỏ vào tai Thúy:

— Sẽ nhớ Thúy và con nhiều lắm!

— Đừng anh, không được! Thả em xuống! Tha cho Thúy!

Thúy nói, nhưng đồng thời cũng muốn yên lặng trong vòng tay chàng. Lại mâu thuẫn. Không được! Nàng muốn van xin, muốn vùng vẫy, muốn tháo gỡ khỏi vòng tay ôm. Thôi rồi! Cung đã ôm chặt lấy nàng, hôn lên tóc, lên trán, lên má, và lên môi…

Thúy như đang sống trong một giấc chiêm bao với tội lỗi, với những lời van xin tạ tội, bởi sự va chạm giữa người với người đã làm Thúy ngây ngất. Cơn rung động theo lẽ tự nhiên của con người đã làm nàng đỏ mặt, toàn thân run lên cầm cập như thời con gái mới bắt đầu biết yêu.

Xa Hãn gần sáu năm rồi, chuyện ái ân chăn gối, dục vọng của tuổi đời nửa chừng xuân đối với nàng đã đi vào quên lãng, có lẽ một phần vì quá cơ cực, một phần vì quá căng thẳng trong một xã hội đầy dẫy những lo sợ, khốn cùng. Nhưng bây giờ sao lại như thế? Tại sao mình lại rung động một cách bất ngờ như vậy? Thúy tự hỏi và cũng chẳng có câu trả lời…Thúy không còn nghe gì nữa mặc dù Cung đã nói thật nhiều vào tai nàng:

— Thúy ở lại cố gắng lo cho Tuấn, anh sẽ…anh sẽ…hãy chờ một ngày đoàn tụ.

Cung đã buông Thúy khỏi vòng tay và leo lên xe buýt từ biệt, nhưng Thúy vẫn đứng chết trân như một người mất hồn cho đến khi chị Lan lay mạnh vào vai:

— Thúy ơi! Mình về?

Tuấn ôm mẹ, vẫn còn khóc, vẫn còn đưa mắt trông theo chiếc xe buýt, trên đó có Cung.

Thúy tỉnh người với những mâu thuẫn bắt đầu lớn dậy trong lòng. Trách Cung đã làm nàng vướng vào tội lỗi. Nhưng nàng tự hỏi: trách được không? Rồi chính nàng cũng tự trả lời: không thể trách được! Một năm qua Cung đã chăm sóc, lo lắng cho mẹ con nàng bằng một thứ tình cảm cao thượng, một thứ tình thương hiếm có ở trong một xã hội nhiễu nhương, chụp giựt, hư hỏng, rã nát… khi những người từ miền bắc vô nam, “giải phóng” tất cả mà cả một xã hội, dù chiến tranh tiền miên, nhưng đâu đến nỗi tệ như ngày nay.

Thế rồi Cung đã đến với Thúy như một ân nhân, một định mệnh an bài, không có thế gỡ bằng một khối tình thầm kín khiến cho nàng bắt đầu cảm thấy khó xử, nếu không muốn nói là đã rơi vào khoảng chân không với tâm trạng luôn luôn bối rối khi đối diện với chàng.

“Làm sao đây, Hãn ơi!”

“Giúp em! Cho em nghị lực để phấn đấu trên lãnh vực tình cảm, bởi em là một người đàn bà đã có chồng. Dù anh không hiện hữu bên em, nhưng em không thể phản bội anh để chia sẻ tình yêu cho một người khác. Em sinh ra và lớn lên trong một gia đình được coi là kín cổng cao tường. Em được dạy dỗ với đầy đủ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, được đổ vào tư tưởng cao qúy của một phụ nữ Đông Phương. Thờ chồng, nuôi con, nếu anh mệnh một trước em, em sẽ ở vậy mãn đời. Huống gì bây giờ, anh vẫn còn đó, tại sao em có thể nằm trong vòng tay người khác mà không sợ xấu hổ với lương tâm. Không được! Trăm ngàn lần không”.

“Cung ơi xin đừng!”

“Hãy để em được sống yên tĩnh. Tại sao phải chọn em, trong khi thiếu gì người khác mơ ươc được đến với anh”.  Hãy để em sống với con đường thủy chung mà em đã chọn từ ngày bước chân vào đời. Đừng nghe Cung! Đừng yêu em! Đừng đưa em vào tuyệt lộ! Đừng bắt em chấp nhận và cũng xin đừng buộc em chối từ! Bởi ân nghĩa không thể trả bằng tình yêu! Như vậy là em đã lợi dụng anh. Còn anh thì có lợi dụng em không nhỉ! Khổ đau tất sẽ không tránh khỏi! Nhưng rồi… khi thiếu anh, em phải làm sao đây! Những ngày sắp tới, cuộc sống cô đơn trên xứ người em có đủ bản lãnh để chống chọi, để giữ em cho Hãn. Tại sao Cung tự nhiên xuất hiện bằng tấm lòng rất lớn của một ân nhân đầy ắp tình người… Phải nói là rất hiếm có trước một xã hội bệ rạc, tha hóa đến tận cùng cô đơn và vì cơn đói thiếu ăn, thiếu mặc… đã đẩy biết bao thiếu phụ vào con đường “thế thân” để nuôi con.

Gần gũi sinh luyến ái. Tình cảm của con người là thế, không thể có biệt lệ. Hai người bạn cùng phái sống với nhau, thân thiết nhau; nhất là cùng có chung một cảnh ngộ, đến khi vì hoàn cảnh phải xa nhau dĩ nhiên là phải nhớ nhau…huống hồ giữa Cung và Thúy, hoàn cảnh đất nước đã đưa đẩy họ gặp nhau, đã thắt buộc họ bằng nghĩa, bằng tình và bằng con tim chân thật, bằng những gắn bó tự nhiên không có thế lìa nhau.

Cung đã một lần lập gia đình, nhưng hiện tại vẫn là một người độc thân. Sao chàng không chọn bất cứ một người con gái nào khác, trẻ đẹp hơn, dễ dàng hơn, có điều kiện hơn… mà chàng lại chọn Thúy, một người đàn bà đầy dẫy những muộn phiền đang vây quanh nàng? Cung có đáng trách không? Tại sao phải chọn mục tiêu tình cảm là Thúy, một người mẹ đã nhận chịu quá nhiều khổ đau sau một cuộc đổi đời từ khi Cộng sản chiếm miền Nam. Hay là chữ nghiệp của Thúy quá lớn mà nàng phải trả? Tất cả phải chăng chỉ là những lý luận theo cái mà ta thường gọi là lẽ phải, mặt phải của một vấn đề. Còn mặt trái của nó thì sao? Còn duyên số, còn định mệnh an bài? Còn những chuyện mới nghe và xét theo suy luận cuộc đời rất trái tai, nhưng nó lại đúng theo từng hoàn cảnh, từng môi trường sống của xã hội thì sao?

Bất cứ ai cũng có thể hiểu rằng lý trí và con tim là hai mặt của một vấn đề: một người đặt con tim cao hơn lý trí, dĩ nhiên hành động để xây dựng tình yêu trở thành mù quáng, lú lẫn. Còn khi ta đặt lý trí lên trên con tim thì mối tình ấy trong sáng hơn, cao thượng hơn là nó được điều khiển qua bản chất hiếu động của con tim. Thế nhưng, trong những cuộc tình ngang trái, mấy ai lấy lý trí để chế ngự được sự thôi thúc con tim? Còn những cuộc tình xảy ra như một định mệnh thì làm sao có giải pháp để chia lìa?

Bình thường ta tự đưa ra những lý luận để tự bào chữa cho sự mềm yếu của nó. Tình yêu: con tim và lý trí quả thật quá khó để cho xác thân của một con người phải cưu mang, phải quằn quại giữa những mâu thuẫn không lối thoát, nhất là dưới chế độ cộng sản đã tàn phá luôn cả luân thường đạo lý của con người.

Mối tình của Thúy và Cung chắc chắn sẽ gặp sóng gió, nhưng mỗi bên đều có hoàn cảnh đáng thương, đáng được tôn trọng hơn là chê trách. Cuộc tình ngang trái nào cũng đẹp cả, bởi tâm lý của con người là thế. Bất cứ một việc gì, nếu phải mạo hiểm, phải chiến đấu trong khổ đau để đạt tới mục tiêu thì nó vẫn hấp dẫn hơn là những chuyện xảy ra một cách bình thường. Nhưng cái giá mà họ phải trả lắm khi quá đắt cho sự chịu đựng của con người. Như ngạn ngữ mà ông bà hay bàn tới: “Phi oan trái bất thành phu phụ”.

(Truyện dài của Trương Sĩ Lương “Người Dàn Bà ra đi “ viết từ giữa thập niên 1980)

Truyên nhiều kỳ sẽ lần lượt đăng trên www.baotgm.com;

Truyện cũng đã đăng 2/3 trên Tạp chí Thế Giới Mới đầu thập niên 1990

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*