Trương S Lương: Người đàn bà ra đi, hay “còn ai chưa khổ!” Kỳ 2

Truyện dài: Trương Sĩ Lương  (Chương 2)

Travis County sets stage for Wildhorse Ranch mixed-use development - Austin Business Journal

Định cư trên đất Texas

Mấy ngày rồi mà Cung vẫn chưa quen với giấc ngủ. Sự sai biệt giữa múi giờ của bên này phần đất địa cầu đã làm chàng trở thành người ngủ ngày. Cung đã cố gắng thức luôn cho tới ngày hôm sau, nhưng vẫn chưa dỗ được giấc ngủ. Đầu óc cứ bần thần khó chịu, phần thì lo đủ thứ: giấy tờ, ăn uống, chỗ ở, phần nhớ Thúy đã làm chàng nôn nóng khó chịu như tâm thần bị xáo trộn.

Sáng nay chàng được ông An, một người Việt làm ở hội USCC đến chở đi làm giấy tờ. Ông ấy dáng người mảnh khảnh, nước da trắng, tính tình vui vẻ hoạt bát. Gặp lần thứ nhì, ông đã đối xử với Cung như một người quen thân từ lâu, ông cũng khuyên cung hãy cố gắng để cho mau làm quen với đời sống mới. Nhưng cũng đừng nên quá lo lắng sẽ không lợi ích gì cả. Vả lại, việc đến phải đến, theo kinh nghiệm của ông thì mọi việc rồi đâu cũng vào đó, điều cần thiết là phải ổn định tâm hồn.

Ông An khơi chuyện:

–  Anh biết lái xe?

–  Dạ biết. Những năm sau này tôi làm nghề tài xế xe đò.

–  Tốt quá! Đỡ được một trở ngại trong bước đầu.

Cung lo lắng e ngại:

–  Dạ lái xe bên này coi bộ khó quá! Xa lộ chằng chịt, đường sá và luật lệ lưu thông có vẻ rườm rà phải không anh? Xe cộ chạy nhanh quá, nối đuôi nhau suốt ngày suốt đêm, chắc cũng còn lâu mới lái được xe và tập làm quen với đường sá.

–  Riết rồi cũng quen, con người sống với thói quen mà anh. Hồi mới qua tôi chỉ lái xe trong thành phố thì ít sợ, leo lên xa lộ (Freeway), thấy xe cộ đầy đường với tốc độ vù vù khiếp thật, nhưng cũng đỡ là toàn đường một chiều ba bốn lane. Đây là thành phố nhỏ xe cộ như vậy nhưng vẫn còn quá ít so với những thành phố lớn khác như Dallas, New York, Los Angeles, San Francisco, hệ thống đường sá còn khủng khiếp hơn, đường năm bảy lane, thế mà nạn kẹt xe vẫn xảy ra hằng ngày là chuyện thường. Hồi mới qua đây cứ ngớ ngẩn lo lắng lung tung beng, tưởng rằng phải mất vài năm mới có thể biết hết đường sá, nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn là quen mắt ngay. Xứ này xa lộ coi chằng chịt như vậy, nhưng được chỉ dẫn rõ ràng, nên đi đâu cũng tới cả, miễn là mình phải để tâm chú ý.

Cung nhìn chiếc xe ông An, khen đẹp rồi tò mò hỏi:

–  Xin tò mò hỏi anh, xe cộ ở bên này mỗi chiếc bao nhiêu? Tôi thấy mới có cũ có. Như hoàn cảnh của chúng tôi, không xe cộ, không phương tiện di chuyển biết bao giờ mới mua được xe để đi làm?

Ông An vui vẻ:

–  Như anh đã thấy, xe hơi bên này cũng y như xe đạp bên nhà vậy thôi. Giá xe cỡ nào cũng có. Tùy theo túi tiền, năm ba trăm cũng có, mấy chục ngàn cũng có. Nói thật với anh, xe cộ ở đây người ta xử dụng như là một phương tiện để thay thế đôi chân, chứ không phải để se sua như bên mình hồi trước 75. Ai ở đây cũng phải có xe để di chuyển, để tìm công việc làm. Anh cũng thế, phải đi làm, để dành chút đỉnh rồi mua một chiếc cũ cũ đi đỡ cho đến khi có tiền rồi tính.

Nghe ông An làm một hơi về xe cộ, Cung chỉ hiểu đại khái một cách tổng quát. Chàng lại tò mò hơn:

–  Như tôi hiện tại đào đâu cho ra tiền để mua xe đi làm?

Có lẽ ông An rất rành tâm lý về sự lo lắng của những người mới qua Mỹ nên ông vui vẻ giải thích ngay:

–  Anh đừng lo, những tháng đầu đi làm, chúng tôi sẽ cố gắng kiếm người này, người nọ cho anh quá giang. Sau vài tháng để dành tiền rồi mua một chiếc xe cũ vậy thôi. Gia đình tôi, hồi mới qua vào năm 1975, chẳng có ai hướng dẫn, xe cộ thì mù tịt; mãi đến năm sáu tháng sau mới mua được một chiếc xe cũ làm phương tiện cho cả gia đình. Có người hên gặp được xe tốt đỡ tốn tiền sửa, kẻ gặp xui, xe cứ cà rật cà tang, tiền mất, tật còn.

Nói tóm lại, số bà con mới đến sau này thế mà đỡ hơn. Nói chung chung, nhờ có người đồng hương đến trước, những cái trở ngại mà họ đã gặp phải lúc ban đầu, chắc chắn là những người đến sau tránh được. Cho đến bây giờ một số lớn người mình đã an cư lạc nghiệp, nhờ sự cần cù và cố gắng không ngừng nên đa số những người đến hồi 75 cũng đã tạm ổn. Anh biết không? Hồi đó, phải đi tìm lòi con mắt mới mua được một chai nước mắm, một ít thực phẩm để nêm nếm theo khẩu vị Việt Nam. Có những gia đình gặp người bảo trợ ở xa thành phố, thèm thức ăn Á Đông phải lặn lội đến trăm dặm mới mua được ít hàng đem về, chứ không phải đi đâu cũng có như bây giờ. Thật ra, bà con đến sau, coi thế mà dễ dàng hơn tụi tui hồi mới đến.

Ông An nói một hơi, Cung hiểu ý ông An, chàng phụ họa:

–  Hồi ở bên trại Hong Kong, tôi cũng có nghe ít nhiều về sự phồn thịnh và thành công của người Việt sau gần sáu bảy năm trên đất người. Tôi cũng được hướng dẫn tí ti về đời sống trên đất Mỹ, nhưng đó chỉ là tổng quát, nghe mà chưa va chạm với thực tế cũng chẳng khác nào một người nhìn vào một bức tranh được vẽ lờ mờ. Còn đời sống riêng tư của mỗi người, tôi nghĩ rất là phức tạp, tùy theo hoàn cảnh sống và sự hội nhập của từng cá nhân phải không anh?

Ông An gật đầu rồi hỏi qua chuyện khác:

–  Anh biết nói tiếng Anh chứ?

Cung cười thành thật:

–  Dạ cũng nói được chút ít thôi. Lâu quá không có dịp để thực hành nên quên hết rồi cũng không chừng!

–  Chị nhà và các cháu còn kẹt lại?

Bị một câu hỏi đột ngột, Cung hơi ngập ngừng, nhưng cũng thổ lộ:

–  Bà xã và đứa con tôi mất vào năm 75 khi chạy nạn vào Cam Ranh!

Mặt Cung bỗng dưng trở nên suy tư buồn thảm. Hiểu được tâm trạng của Cung, ông An an ủi:

–  Tội nhỉ! Âu cũng là cơn đau chung của người Việt mình. Thôi đã đến được phần đất tự do rồi, hãy cố gắng làm lại cuộc đời. Dĩ nhiên trong những bước đầu trên phần đất mới ai cũng phải gặp khó khăn, nhưng nếu biết cố gắng làm việc thì sẽ vượt qua tất cả.

Thấy Cung có vẻ thành thật, ông An dặn dò:

–  Khi lên hội làm giấy tờ cần thiết, nếu gặp một vài trở ngại về sự đối xử của nhân viên trên đó, xin anh đừng quan ngại nhá!

Sở dĩ ông An dặn Cung như vậy, bởi thời gian gần đây bà con than phiền về một số nhân viên làm giấy tờ hành chánh ở hội đã tỏ ra khó chịu với đồng hương mới qua. Một vài chuyện xích mích đã xảy ra, nghe cũng rất kỳ kỳ,  nhưng giới hữu trách đã giải quyết ổn thỏa. Ông An thở ra rồi tự hỏi: không biết tại sao người Việt ít thương yêu nhau như những dân tộc khác! Đối với người ngoại quốc thì rất tử tế, hiếu khách. Lạ thật!

Còn đối với chính người mình, chưa giúp đỡ đã hống hách khó chịu. Đáng lẽ phải hướng dẫn tận tình cho người ta trong những bước đầu khó khăn, họ lại vô tình hay cố ý tạo ra những hiểu lầm, làm cho người mới đến cảm thấy tủi phận, nghi ngờ thiện chí của mình. Phải chăng dân tộc Việt bị ngoại bang đô hộ quá lâu nên những thói hư tật xấu đã ăn sâu trong huyết quản con người!

Đành rằng không phải ai cũng như vậy, không thể vơ đũa cả nắm, dĩ nhiên cũng có người này người khác, nhưng nghĩ cho kỹ mới thấy chán ngấy cho sự chia rẽ muôn đời của người mình! Ai cũng hô hào đoàn kết, tạo thành một khối tại hải ngoại, để ít nhất cũng đùm bọc lẫn nhau trong những ngày lưu lạc quê người, chứ đừng nói tới việc ngồi lại vận động đấu tranh cho tự do dân chủ ở quê nhà!

Ai cũng hiểu đoàn kết là chuyện cần phải làm… Nhưng hễ ngồi lại với nhau là có chuyện bưới móc, đố kỵ, tranh giành, hơn thua… để rồi cuối cùng chỉ phơi rõ những thói hư tật xấu cho người bản xứ cười chê. Đã chạy trối chết ra nước ngoài rồi mà cái bệnh suy yếu kinh niên vì chia rẽ vẫn không bao giờ muốn dứt.

Thế nhưng, những người hiểu biết về chính sách cai trị của CS quốc tế cho rắng,  thì CS luôn luôn áp dụng kế sách dụ dỗ, hoặc cấy người của họ vào tập thể tị nạn,  tạo những mâu thuẫn để từ từ chia rẽ tập thế người trốn chạy tị nạn CS,  gây xáo trộn để thủ lợi về mặt tuyên truyền chính trị về lâu về dài.

Cung lo lắng, nhưng cũng bắt đầu thăm dò về việc làm giấy tờ bảo lãnh cho Thúy và chị Lan:

–  Xin anh cho biết, mới qua chân ướt chân ráo, không biết có bảo lãnh được cho người thân ở bên trại tị nạn Hong Kong hay không?

Ông An trả lời thành thật:

–  Còn tùy anh bảo lãnh cho ai. Vả lại, hội có thể làm điều đó cho anh để thân nhân được đoàn tụ sớm.

Cung mừng ra mặt:

–  Tôi có một gia đình gồm hai mẹ con người bạn gái và ba mẹ con người chị họ, hiện đang ở Hong Kong.

–  Đừng lo! Anh chỉ xin bảo lãnh qua sự bảo trợ của hội và lo ổn định đời sống là xong. Theo sự hiểu biết của tôi: bà chị họ có thể bảo lãnh được, nhưng riêng hai mẹ con người bạn thì tôi không chắc. Vả lại, còn tùy thuộc vào điều kiện của chị ấy… tuy nhiên anh cũng nên làm đơn xin bảo lãnh, nếu chị ấy đủ điều kiện để vào đất Mỹ thì chuyện sắp xếp cho bạn bè đoàn tụ cũng không phải chuyện khó. Điều quan trọng hơn hết là anh nên tìm học một nghề thích hợp với khả năng mình, để sau này có việc làm vững vàng, khi muốn giúp bà con thân nhân cũng dễ dàng hơn.

Ông An ngừng một lát rồi nói lãng qua một chuyện khác:

–  Ngoài nghề tài xế anh còn biết nghề gì nữa không?

Cung trả lời như một cách giải thích:

–  Dạ không. Chắc anh cũng biết, hồi trước học xong tú tài là phải vào quân đội, chưa làm gì nên thân thì tan hàng…có nghề ngỗng gì đâu anh!

Ông An kể cho Cung biết về một số công việc làm mà không cần nghề nghiệp chuyên môn như: may vá, làm những công việc lao động, làm assembler cho các hãng điện tử, làm phụ bếp ở nhà hàng… Trường hợp của Cung, không biết có thích hợp với những loại công việc như ông An đã kể. Ông cho biết Cung cũng có thể thi bằng làm tài xế ở xứ này, nhưng cần thời gian, biết đường sá và ngôn ngữ mới có thể theo được. Cung nghĩ rằng, bất cứ nghề gì,  chàng cũng lăn vào làm để còn lo cho gia đình Thúy và chị Lan rồi hậu xét.

Hai tuần ở chung với một gia đình người Việt mới từ trại tị nạn Mã Lai qua, Cung bắt đầu lại sức và cảm thấy thoải mái phần nào. Một căn apartment hai phòng ngủ, Cung được nhét vào ở chung một phòng với gia đình ông Đầy, đồ dùng lặt vặt được hội cung cấp khá đầy đủ. Ba cha con ông Đầy tối ngày hết ăn rồi ngủ, bữa nào họ cũng ăn hết một nồi cơm to.

Thằng Lô con trai 21 tuổi, ăn như để trả thù những ngày đói khổ ở Việt Nam và ăn bù cho sự thiếu hụt ở trại tị nạn. Đứa con gái của ông Đầy, tên Tuyết, 23 tuổi, cũng có nhan sắc và đó là lý do để bọn con trai người Việt trong vùng lui tới làm quen nườm nượp. Có đêm tới 10, 11 giờ khuya mà họ vẫn còn tới thăm.

Đàn bà qua Mỹ bổng dưng có giá kinh khủng, bởi hồi chạy nạn hốt hoảng ra đi tìm tự do chỉ có lính là có phương tiện vượt thoát: lính độc thân, lính kẹt vợ con bên nhà… tỷ lệ phái nữ người Việt tị nạn qua đây quá ít ỏi so với đàn ông con trai. Thế rồi mấy anh thanh niên độc thân sống lâu ngày trên đất lạ, thiếu phái nữ như cây cỏ thiếu nước, lại tìm không ra đàn bà Việt Nam đành quơ đại dân da trắng, da nâu… Có người may mắn kiếm được người đàng hoàng cũng đỡ, có người rủi ro vớ phải mấy bà chằng, tối ngày chỉ biết ăn chơi, hút thuốc uống rượu; lâu lâu chán ngán, khó giải quyết được những điểm dị biệt giữa hai nền văn hoá Đông Tây, lại vác chiếu ra tòa ly dị.

Thanh niên Việt đành cắn răng “lao động vinh quang” để trả tiền trợ cấp. Nuôi thân chưa đủ mà phải gánh thêm món nợ trần ai nữa mới khổ.

Những chuyện tình bất đắc dĩ, trai Việt, gái bản xứ có người kể lại nghe cười rơi nước mắt. Một số khác gặp được những phụ nữ Việt hồi trước theo chồng về Mỹ, những người này hoặc đã ly dị, hoặc muốn “Ta về ta tắm ao ta. Ao nhà dù có đỉa (cắn) nhưng mà vẫn hơn”. Thế là những mối tình muộn trên đất người nẫy nở. Thanh niên Việt bổng dưng mất giá, bên nhà trai thiếu gái thừa, bên này thì trai thừa gái thiếu.

Tội nghiệp cho những chàng độc thân qua đây hồi 75, phải trầy da trốc vẫy mới kiếm được một phụ nữ Việt. Cưới được một cô, phải cưng như trứng mỏng, nguyện làm thân trâu ngựa, cày bừa chết bỏ để phụng sự người đẹp. Thế mà có nhiều người gặp hoàn cảnh éo le vẫn phải chia tay một cách đau đớn.

Phái nữ Việt trên đất người, đùng một cái, đắt chồng như tôm tươi. Thôi thì tha hồ mà chọn đấng phu quân cho đúng với tầng số mới của mình. Có người được dịp lên nước kinh khủng, cộng thêm đời sống vốn quý trọng đàn bà của dân bản xứ, nên họ đã nắm lấy cơ hội, thừa thắng xông lên, nghĩa là “bà đây cũng kiếm tiền về như chồng, việc gì phải này nọ như xưa“. Loạng quạng bà cho đi luôn thì có nước nằm không suốt đời.

Thế rồi… những đổ vỡ đã bắt đầu xảy ra nhan nhãn, ngay cả những gia đình tị nạn mà từ trước được coi là “kính cổng cao tường nhất” cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Hồi xưa còn bà con nội ngoại, còn xóm trên làng dưới, còn này còn nọ, đôi khi cũng muốn tung ra, xé rào… nhưng phải chịu đựng đè nén vì những ràng buộc lễ giáo. Bây giờ ở xứ người rồi còn ai để chê cười? Đổ vỡ, dọn về một thành phố mới, một tiểu bang mới, chỉ giao tiếp với người bản xứ là khỏe re, chẳng ai làm phiền mình cả, mặc sức mà thụ hưởng theo sự cuốn hút của một xã hội phủ phê về mặt vật chất.

Từ những đổi thay về đời sống cũng như sự hội nhập vào xã hội mới đã làm cho trật tự gia đình của một số người bị lung lay. Những người không kiềm chế được sự đổi thay tâm lý bất ngờ, không dằn được những nhu cầu đòi hỏi về mọi khía cạnh, tinh thần, vật chất; không tìm được những điểm tương đồng để cùng nhau loại trừ những dị biệt ngày xưa, vốn vì này nọ… Cái gia phả khi mới mang theo thì to lắm, nhưng càng ngày nó càng teo rút lại, tất phải tan vỡ. Nói như thế không phải vơ đũa cả nắm, dĩ nhiên cũng có người này kẻ nọ, những người phụ nữ đoan trang, thục nữ vừa phải chấp nhận hội nhập với hoàn cảnh mới, vừa phải gìn giữ gia phong vẫn còn chiếm đa số.

Hồi ở trại tị nạn cũng nghe đồn, ở bên Mỹ thắp đuốc tìm không ra đàn bà con gái Việt Nam, nên dân độc thân ở bên đó đã nhào vô cưới vợ lia lịa trước khi khăn gói lên đường đi định cư. Mấy hôm trước, gặp được một người qua từ 75 ở hội USCC, ông An bắt tay vui mừng và giới thiệu với Cung rồi kể lại chuyện tình Việt Mỹ lâm ly bi đát của người tị nạn làm Cung cứ nhớ mãi.

oOo

“Hồi người Việt mình mới qua định cư, một số lớn thanh niên độc thân được những gia đình người Mỹ bảo trợ. Trong số này cũng có một ít gia đình chồng Mỹ vợ Việt đến các trại tị nạn ở Cali, ở Fort Chaffee để tìm thân nhân của họ. Có người tìm được bà con, có người tìm không được ai cả, đành bảo trợ một vài chàng độc thân ra khỏi trại để giúp đỡ lo công ăn việc làm cho họ định cư.

Gia đình ông bà John, Liên Smith cũng đến trại và bảo trợ cho hai thanh niên độc thân xuất trại. Ông John làm ở công ty điện thoại, chị Liên làm thư ký ở một hãng rượu. Họ có hai con, một trai, một gái lên năm, lên ba. Ngô và Cương trước đây thuộc binh chủng Nhảy dù, họ theo gia đình này về sống ở một thành phố nhỏ cách Austin chừng năm mươi dặm. Nơi đây họ trở thành một đại gia đình gồm sáu người. John kiếm được việc làm cho cả hai người tại một nhà hàng Tàu. Ngô chuyên rửa chén và Cương thì phụ bồi bàn. Tính tình Ngô hoạt bát, thông minh nên chỉ trong một thời gian ngắn đã lọt được vào chức phụ bếp, lương bổng cũng khá hơn. Cả hai vẫn đi về chung sống với gia đình ông John và chị Liên, mặc dù họ đã có thể ra ngoài để thuê một căn apartment sống tự túc, nhưng chị Liên và John nhất định không cho, họ vẫn muốn cả hai người có thời gian dành dụm chút đỉnh rồi ở riêng cũng chưa muộn.

Chị Liên có một người bạn cùng cảnh ngộ tên Ly, cũng lấy chồng xứ lạ như nàng, Ly nhỏ tuổi hơn, có chồng tên là Bryan. Họ ở cách nhau vài chục dặm, thỉnh thoảng vào dịp cuối tuần thường lui tới thăm nhau, tâm sự, nấu những món Việt Nam để ăn cho đỡ thèm. Bryan là cựu chiến binh đã từng phục vụ tại Việt Nam hơn hai năm, hắn còn trẻ, tính tình hơi kỳ cục một chút. Ly thường hay thổ lộ nỗi niềm cô đơn của nàng trên đất khách với chị Liên.

Từ ngày Ly theo Bryan về Mỹ, tính tình hắn đã thay đổi, có lẽ hắn không còn yêu thương nàng như hồi ở Việt Nam nữa. Thật ra, Ly cũng biết điều đó, nhưng cứ ráng sống vì tứ cố vô thân, cha mẹ nàng đã mất trong cuộc chiến, bà con còn vài gia đình ở bên nhà, nhưng sau ngày 30-4-75 Ly hoàn toàn mất liên lạc với hai người Cô ở mãi dưới quê.

Từ khi có Ngô và Cương về ở chung với gia đình ông bà John Liên, Ly thường lui tới hơn. Một điều rất dễ hiểu –  xét trên phương diện tâm lý –  Ly muốn đến để đấu láo tiếng Việt với Ngô, Cương và chị Liên cho bằng thích. Bởi hơn hai năm nay, ngày nào cũng phải nói tiếng Mỹ, mà tiếng Mỹ của nàng lại rất giới hạn. Cho nên nàng đến để tìm những cái giống nhau qua văn hoá, qua màu da, phong tục tập quán, cách ở, miếng ăn và đến để tìm cái nhịp cầu gạch nối giữa những khoảng trống tinh thần mà tự nó đã tiềm ẩn ở trong con người của mỗi dân tộc.

Do đó, khi gặp được người Việt như gia đình chị Liên là Ly tha hồ nói như chim sổ lồng, như cá gặp nước. Có ở xứ lạ quê người, không bà con thân thuộc, không có lũy tre xanh, không có ruộng đồng xóm trên làng dưới, nhất là cái gì cũng xa lạ mới thấy tình quê hương đậm đà, mới thấy món ăn tinh thần của con người rất quan trọng. Ngô, Cương là hình ảnh của quê nhà, là cái gì quen thuộc mà Ly đã bỏ lại sau lưng trong những năm qua.

Bryan thấy Ly thường lui tới nhà chị Liên, hắn đâm ghen tương một cách sổ sàng. Có lần hắn đã nói thẳng với ông John và cấm không cho Ly lui tới với chị Liên nữa. Ly, dù tiếng được tiếng mất, nhưng cũng đã phản đối quyết liệt với Bryan, nhất quyết đòi chị Liên và John phải dạy cách cư xử cho Bryan, giải thích cho hắn về sự cần thiết của con người trên phương diện tinh thần. Nhưng tính tình chị Liên không ưa những chuyện rắc rối xảy ra, nên chị ấy cũng khuyên Ly chìu nó một thời gian rồi hẵng tính.

Ba bốn tuần không thấy Ly đến chơi như trước, Cương hỏi chị Liên:

–  Chị Liên, sao lâu rồi không thấy bà Ly qua chơi? Chắc là có chuyện gì giận nhà mình phải không?

Ban đầu chị Liên cố giấu, nhưng cuối cùng chị cũng đành thổ lộ:

–  Cũng không giấu gì hai em, thằng chồng nó hay ghen bậy bạ nên đã không cho con Ly lui tới những nơi có thanh niên Việt Nam!

Cả hai người cũng không mấy ngạc nhiên cho lắm, vì họ đã cảm nhận được ánh mắt, thái độ và ý nghĩ của Bryan mỗi lần Ly qua chơi. Ngô lên tiếng ngay:

–  Bộ nó ghen với tụi tui há?

Chị Liên nhẹ nhàng:

–  Cũng có thể như vậy, đúng là đồ con nít! Mắc dịch!

Cương ít nói, nhưng máu giang hồ của binh chủng Nhảy dù thì tràn đầy, nếu không muốn nói là quá nhiều. Ngô biết bạn mình hay liều mạng làm ẫu như hồi ở chung một đơn vị, nên khi nghe vậy,  Ngô dằn mặt Cương ngay:

–  Nghe như vậy nhưng khi gặp người ta là phải bình tĩnh, đừng có nổi máu du côn như hồi trước nghe mày? Ở đây cái gì cũng khó khăn, phải nghe tao đó nghen. Mình đến xứ người ta ăn nhờ ở đậu, nhịn một chút cũng không phải uổng công đâu nghe mày!

Cương không nói, đưa mắt nhìn chị Liên, như muốn chia sẻ nỗi cô đơn của những người con gái Việt lạc loài trên đất lạ. Chị Liên nghe Ngô nói về thành tích của Cương khi còn trong quân đội, chị cũng dặn dò:

–  Ngô nói đúng đó em ạ? Đừng nóng nảy sẽ bất lợi. Vả lại thằng Bryan, tính tình xưa nay vẫn kỳ cục như vậy. Em không tin cứ hỏi ông John nhà mình là biết ngay à. Ông chồng chị rất tốt bụng, trước đây cũng khuyên can Bryan phải lo lắng cho Ly và đừng nên ghen tương bậy bạ rồi mất hạnh phúc, nhưng hắn tính nào tật nấy, người ta nói đã thành tật rồi thì khó bỏ lắm! Nói thật với hai em, hồi trước chưa có hai em, nó cũng ghen tùm lum.

Nghe chị Liên càm ràm về Bryan, Cương nhất quyết:

–  Có dịp gặp nó ở đâu, em cũng sẽ nói cho nó rõ,  rằng chúng tôi là người đồng hương với nhau, có cùng ngôn ngữ, có chung phong tục tập quán. Tuy chúng tôi không có liên hệ bà con cật ruột, nhưng trên đất lạ quê người đã trở thành bà con. Bryan nghĩ và hành động như vậy là quá bậy! Nếu không biết sửa đổi và còn cấm không cho bà Ly đến với gia đình mình, em chắc chắn sẽ cho nó một bài học nên thân rồi đến đâu thì đến.

Thật ra, Cương cũng thường nghe Ly kể về Bryan hay ăn hiếp nàng, hay sinh chuyện này nọ để buộc Ly phải làm theo ý hắn, nói chung là đối xử tệ với nàng. Có lần Cương định bảo Ngô chọc quê hắn ít câu, nhưng Ly lại năn nỉ Cương bỏ qua. Bởi nếu hắn biết được ý định của những người chung quanh, hắn sẽ tìm cách dọn đi một nơi khác xa xôi để cô lập Ly là một mất mát lớn cho nàng.

Một hôm Bryan gặp Cương ở nhà hàng nơi chàng làm việc, hắn tính chuyện sinh sự với ông chủ nhà hàng. Cương cố nhịn, nhưng hắn cứ làm tới với mục đích gây rắc rối để chủ nhà hàng cho Cương nghỉ việc.

Buổi tối đi làm về hắn còn gọi điện thoại làm khó chị Liên. Cương tức mình, bảo Ngô chở Cương tới nhà Bryan để nói rõ tự sự. Hai người đến nhà cố gắng giải thích dù tiếng được tiếng mất, nhưng hắn đã không nghe còn kêu cảnh sát tới đuổi hai người đi.

Ngày hôm sau, hắn lại mò tới nhà hàng đòi sinh sự với bà chủ. Cương tức mình phóng ra ngoài sân, ông chủ nhà hàng khuyên can hết lời nhưng hắn cũng phóng ra ngoài, ỷ to con sấn lại chụp cổ áo định nhắc bổng Cương lên. Nhưng chàng đã nhanh như chớp, lòn hai tay vào giữa lồng ngực hắn theo một thế tháo gỡ của Việt Võ Đạo. Cương dùng sức kéo người hắn tới, hắn cố ghì lại, nhưng Cương đưa đòn đầu gối lên bụng, đồng lúc cùi chỏ tay phải xử dụng đúng đòn thế cận chiến làm hắn phải lùi lại. Không để lỡ dịp may, Cương xoay người đưa một đòn chân vào mặt làm hắn té nhào xuống nền xi măng.

Bà chủ quán đã gọi cảnh sát từ khi hai người bước ra sân, khi cảnh sát tới nơi thì Bryan đã không ngồi dậy được. Cảnh sát hỏi tự sự đầu đuôi, bà chủ quán làm chứng về việc Bryan đã đến sinh sự hai lần trong tuần qua. Cảnh sát mời hắn về bót, bắt tay Cương và không quên trấn an bà chủ nhà hàng rằng họ sẽ để ý, nếu cần sẽ làm ngay thủ tục và cấm không cho Bryan lai vãng gần nhà hàng, gây rối loạn,.

Câu chuyện ẫu đả với bài học đẹp mắt của Cương làm Bryan càng ngày càng thù ghét Ly và người Việt đang cư ngụ trong vùng. Hắn đòi dọn đi về một thành phố khác, Ly nhất định không chịu, cuối cùng Ly phải đệ đơn xin ly thân.

Xét cho cùng, sự đổ vỡ giữa Ly và Bryan không phải vì ngoại cảnh, cũng không phải vì sự hiện diện của Ngô và Cương, mà ở cái biên giới dân tộc, ở ngôn ngữ, ở phong tục tập quán, ở những điểm khác nhau trong quan niệm sống của từng sắc dân mà kẻ không biết tương nhượng khi đối xử với nhau thì kết quả của nó là sự chia lìa gãy đổ.

Sau vụ lộn xộn với Bryan, Ngô và Cương bực mình dọn về Fort Worth, nơi có rất nhiều người Việt đang định cư. Về đây, họ cũng làm nghề nhà hàng, cuộc sống bình lặng. Một thời gian sau, gia đình chị Liên lên thăm, Ly cũng đi theo. Lần hội ngộ này, Ly nhất quyết di chuyển về với Ngô và Cương. Từ đó mối tình chắp nối giữa Ly và Cương nẫy nở. Ba năm sau, họ có con, rất thành công trong nghề nhà hàng và rất hạnh phúc bên nhau. Ngô vẫn còn độc thân, sống chung với gia đình Cương như ruột thịt.

Thật ra Cung cũng đã được nghe rất nhiều về những chuyện tình trai gái Việt Mỹ. Câu chuyện mà ông An kể, chỉ là một chuyện nhỏ trong nhiều mối tình mà người Việt đã gặp phải bởi những khác biệt về văn hoá, khó khăn khi diễn đạt tư tưởng và nhiều điểm nữa… nhưng cái quan trọng nhất vẫn là vấn đề chủng tộc.

oOo

Được một chiếc Tivi cũ do bọn thanh niên mang tới cho, Tuyết và Ông đầy lau chùi và vặn đài lia lịa. Thằng Lô ôm chiếc cassette với những băng nhạc cũ rích không biết từ đâu mà nó có, tối ngày Lô hát theo, hát thuộc làu như ca sĩ trình diễn.

Cuộc sống của bốn người trong một căn nhà như thế cứ trôi đi một cách trầm lặng. Cung thì ngày nào cũng suy tư, lo lắng đủ thứ chuyện. Thỉnh thoảng ông An cũng đến thăm Cung, thăm gia đình ông Đầy và thường nhắc nhở nên bình thản nghỉ ngơi một vài tuần lễ cho lại sức vì thay đổi khí hậu, nhưng Cung cứ nằng nặc đòi mau mau xin việc đi làm.

Liên tiếp mấy buổi sáng, ông Đầy thường đánh thức Cung dậy sớm uống Café. Mới ở chung với nhau chưa đầy ba tuần mà ông Đầy có vẻ rất mến tính tình của Cung, ngày nào cũng tâm sự hết chuyện này đến chuyện nọ thời sự chính trị, chính em.

Vừa chế nước sôi vào café ông Đầy vừa than thở:

–  Cái gì ở đây ăn cũng dở thấy mẹ! Café thì chua lét chua le, uống không thấm thía vào đâu cả!

Cung không phụ họa với ông Đầy như mọi lần, chàng chỉ mỉm cười, nhìn ông với đôi mắt thân thiện rồi đốt một điếu thuốc, mở cửa phà khói ra ngoài. Ông Đầy cũng châm một điếu thuốc rồi uống cạn ly café. Cả hai người dường như có chung một tâm sự: lo lắng lung tung, tương lai mù mịt trên xứ người…

Trời mùa Thu, buổi sáng lành lạnh. Ngoài đường cây cỏ đã đổi màu, tím, vàng, đỏ bầm trông cũng ngộ ngộ. Đến cây cỏ trên phần đất của bên này địa cầu cũng lạ hoắc, huống hồ gì con người! Lạ với thiên nhiên, lạ với đường đi lối về, tất cả đều xa lạ! Ông Đầy cứ lo lắng không biết tới bao giờ mới hội nhập được với hoàn cảnh, với xã hội mà ông sẽ phải chấp nhận sống.

Đằng sau nhà, những chiếc lá vàng đã bắt đầu lìa cành nằm phơi mình ngổn ngang trên sân cỏ. Bên kia đường sau những hàng cây là một dãy chung cư khác. Nghe ông Đầy nói nơi đó cũng có một số người Việt ở, nhưng Cung chưa có dịp để thăm hỏi làm quen.

Ông Đầy mở cửa theo Cung ra đằng sau nhà rồi bắt chuyện:

–  Ở nhà riết chán quá! Hay là anh em mình cuốc bộ một vòng ra ngoài đường lộ được không?

Cung đáp ngay:

–  Đi thì đi, nhưng biết đi đâu bây giờ?

–  Thì cứ ra đường cho biết, ở nhà suy nghĩ riết muốn điên cha nó người! Xứ này là xứ tự do, muốn đi đâu thì đi, có ai thèm hỏi giấy tờ như ở bên mình đâu mà sợ?

Tuyết nãy giờ loay hoay ở nhà bếp, nghe hai người rủ nhau cuốc bộ đến khu thương mại, lòng cũng muốn đi theo nhưng e ngại sợ ông Đầy không cho nên cứ ngần ngừ:

–  Ba nói đúng y như ý của con, cứ ở nhà nhìn quanh bốn bức tường chán lắm! Con cũng muốn…

Ông Đầy biết ý con gái, đưa mắt nhìn Cung như thầm hỏi ý kiến của chàng. Thấy Cung không có phản ứng, ông Đầy nói ngay:

–  Muốn đi theo thì lẹ lên, chờ mày sửa soạn aó quần rồi khi nào mới ra khỏi nhà!

Nghe ba nói cho theo, Tuyết cảm thấy vui. Thật ra Tuyết cũng đã lớn, nhưng dưới con mắt ông Đầy, Tuyết vẫn là con bé học trò chưa bước vào đời như những người khác. Ở chung một nhà với Cung, nhất là tính tình chàng trầm tĩnh, ít nói đã gây được cảm tình với Tuyết. Những ngày đầu mới biết nhau, khi được hội bảo trợ nhét vô chung một nhà Tuyết cũng thấy kỳ kỳ, nhưng riết rồi đâm quen. Cung thì xưng hô chú cháu ngọt xớt, nhưng Tuyết vẫn cho rằng Cung còn trẻ và nên đóng vai anh thì đúng hơn.

Nghe ông Đầy chấp thuận, còn Cung thì không lên tiếng, nghĩa là họ bằng lòng cho đi, Tuyết nói ngay:

–  Một phút là xong liền ba ạ.

Cung cảm thấy lạnh, chàng khoác chiếc áo lạnh của ông An cho mấy hôm trước lên người. Ba người thả bộ ra đường về hướng một khu shopping center. Họ băng qua một đường lộ rộng thênh thang, xe cộ tấp nập đổ vào thành phố, đằng xa là những bynh đinh cao chọc trời. Ông Đầy vừa đi vừa nói:

–  Anh Cung ạ! Không biết tôi nói cái này có đúng không, sao chẳng thấy ai đi bộ như mình cả?

Cung vừa chỉ tay qua bên kia đường vừa đáp ngay:

–  Anh không thấy sao? Mấy thằng nhóc Mỹ đen đang vác radio vừa đi vừa cà ngúc cà ngắc như những chàng cán ngố bên nhà đó anh nè, chỉ khác là mấy anh nhà mình gọi là cái đài đó thôi.

Ông Đầy đưa mắt qua bên kia đường nhìn mấy đứa trẻ Mỹ đen đang quây quần bên chiếc máy cassette, mở nhạc thật lớn, vừa lắc vừa quay vòng vòng theo điệu nhạc ì ạch trông tức cười. Ông Đầy vẫn thắc mắc:

–  Chỉ thấy mấy mống Mỹ con, đâu phải như ở bên mình, đi đâu cũng thấy người.

–  Thì người ta đang ở trên xe. Ai cũng có xe để di chuyển đây đó, đất nước họ giàu mạnh mới được như thế này. Còn quê hương mình cứ cái kiểu Cộng sản ngự trị dài dài thì phải mất cả trăm năm nữa mới theo kịp được họ!

Ông Đầy tán đồng:

–  Đúng là một lũ người ngu dốt, đưa dân tộc lùi lại cả trăm năm. Nghĩ tới là phải tức ói máu, tụi nó muốn bần cùng hoá con người thành trâu bò để chúng tha hồ sai khiến!

Cung nói theo:

–  Nhưng mà dễ gì thực hiện được, tất cả chỉ do tham vọng mà ra! Lấy chiêu bài “giải phóng” để đạp đổ một giai cấp, rồi chính tụi nó tạo nên một giai cấp khác, quan liêu hơn, thối nát hơn cả trăm ngàn lần, chỉ thế thôi! Anh nghĩ coi? Cái xứ giàu mạnh như thế này thì làm sao mà Cộng sản lọt vô cho nổi. Tụi nó chỉ tung hoành ở những xứ nghèo đói với trình độ dân trí thấp kém. Cấp lãnh đạo đảng không được một mống học hết trung học thì làm sao mà dân tộc khá được. Y tá thì cho là bác sĩ, dốt như trâu mà đòi làm văn hóa. Những từ ngữ ráp nối lung tung mà họ xử dụng sau năm 75 nghe không nhịn được cười. Chưa thuộc hết ngữ vựng của ngôn ngữ mà cứ đòi đi làm thầy đời, nghe thật nhà quê, tối dạ không thể chịu được, quả là một mất mát lớn lao cho dân tộc. Đúng là ngu dốt và Cộng sản giống nhau ở chỗ đó.

Tuyết nãy giờ vừa đi vừa nhìn xe cộ tấp nập ngược xuôi, cảnh vật chung quanh, nghe Cung và ba nàng đối đáp, đưa những nhận xét về quê hương đất nước, Tuyết muốn đóng góp một vài ý tưởng, nhưng nghĩ sao nàng lại đổi đề tài:

–  Ba, anh…Cung, à… chú Cung ạ? Điều thực tế nhất mà con nghĩ là mình phải hội nhập vào xã hội người ta càng sớm càng tốt để còn lo cho những người thân đang cần sự giúp đỡ. Điều con lo, đó là công việc làm cho ba, cho con, cho chú Cung và cho cả thằng Lô.

Ông Đầy định lên tiếng, nhưng thấy Cung tằng hắng sẵn sàng vào chuyện với Tuyết nên ông thôi. Cung nói:

–  Tuyết nói rất đúng, chú nghĩ mình phải kiếm việc làm ngay tức khắc. Bắt đầu ngày mai nếu hội chưa lo cho mình đi làm, mình phải tìm cách lo liệu lấy phải không?

–  Mấy hôm rày, vài anh bạn quen với Tuyết có đặt vấn đề chở ba và Tuyết đi xin việc làm dưới phố, nhưng lại nghĩ mới qua còn mệt mỏi với khí hậu nên cháu chưa nói với ba.

Ông Đầy nói ngay:

–  Sao con không nói cho ba và chú Cung biết! Không chừng mấy chú gì đó…hay lại chơi nhà mình giới thiệu công việc làm tốt cũng có.

Cả ba người đi vào chợ Winn Dixie. Nhìn hàng hoá, thịt cá, rau cải tươi tốt được sắp ngay ngắn đẹp mắt, được ướp lạnh theo từng nhiệt độ của thực phẩm, Tuyết lên tiếng:

–  Ba thấy không? Cái gì cũng có cả, thực phẩm đâu có khan hiếm như ở xứ mình mà phải đầu cơ tích trữ.

Cung lý luận:

–  Đồ ăn dư thừa, vì vậy ở xứ này người nào cũng béo mập, ăn cho nhiều rồi lo giảm cân. Ở xứ mình chết vì đói, còn ở đây chết vì no, đúng không? Nghe nói dân Mỹ tối ngày cứ lo uống thuốc đai-ét, đai-yết gì đó để mong cho sụt bớt cân. Tôi nghĩ cần gì làm vậy cho phí sức, cứ đến các xứ Cộng sản và đặc biệt là qua Việt Nam chừng 3 tháng, sống y như đời sống dân chúng, bảo đảm không tụt mỗi ngày một pound, cứ lôi tôi ra mà mắng.

Tuyết cười, ông Đầy phụ họa:

–  Thượng Đế không công bằng chút nào!

Tuyết cảm thấy gần gũi với Cung hơn, có lẽ tình cảm của nàng dành cho Cung đã bắt đầu lớn dậy trong tâm hồn nàng. Tuyết mơ một ngày nào đó, khi cuộc sống bắt đầu yên ổn, có Cung ở bên cạnh là hạnh phúc lắm. Nhưng mà Cung đã có người khác, biết người ta có nghĩ đến mình không? Nàng tự hỏi và cũng tự cho mình ngớ ngẩn.

oOo

Một hôm ông An đến nhà, thấy Tuyết đang ngồi dán mắt vào Tivi, ông lên tiếng:

–  Tốt quá, lại có ai cho Tivi phải không?

Ông Đầy vui vẻ lên tiếng:

–  Dạ của mấy chú thanh niên cho mấy hôm rày.

Ông An dặn dò:

–  Cũng nên cẩn thận, bởi thanh niên ở đây hư hỏng cũng nhiều lắm. Thành phố nào có đông người Việt là ở đó có những băng đảng, quấy phá bà con không ít!

Ông Đầy nhận xét và nói một cách tự nhiên:

–  Chỗ nào thì tôi không biết, nhưng mấy chú này nghe nói có công ăn việc làm đàng hoàng.

Tuyết cũng xen vào:

–  Dạ thưa ba, nghe họ vừa đi làm vừa đi học ở một trường đại học gì đó ba ạ…

Ông An vui vẻ:

–  Thế thì được, chứ quen ba cái thứ lăng nhăng, chuyên đi quấy phá làng xóm chỉ chuốc thêm phiền muộn. Để khi nào rảnh rỗi tôi sẽ kể cho gia đình anh nghe một vài tệ nạn băng đảng Việt Nam tại đây. Giờ thì tôi có việc làm cho anh và anh Cung, hai người đã sẵn sàng để bắt đầu “xuống núi” vào tuần sau được chưa?

Cung nãy giờ không nói, nghe sắp được đi làm chàng quýnh người lên như bắt được vàng:

–  Dạ, anh An, nghe mừng quá! Ở nhà hoài chán thấy bà!

–  Anh thì có khác. Ai đến xứ lạ quê người cũng mong được đi học Anh văn mấy tháng rồi hẵng tính, nhưng anh mới chân ướt chân ráo đến xứ lạ quê người đã muốn đi cày cho mau có tiền. Độc thân, khỏe mạnh như anh mà lo gì việc làm, chỉ sợ sau này anh không có sức đó thôi! Thú thật với hai anh, nhất là anh Đầy, sợ anh hơi lớn tuổi chịu không nổi những công việc lao động!

Ông Đầy lên tiếng:

–  Tôi đã chịu đựng, lăn lóc cơ cực dưới chế độ CS hơn 6, 7 năm rồi, nhằm nhò gì khó nhọc, miễn sao có công việc, ổn định đời sống để còn lo cho má nó và hai đứa nhỏ còn kẹt bên nhà là điều tôi mãn nguyện.

Ông Đầy, dưới thời Việt Nam Cộng hòa làm xã Trưởng. Cộng Sản chiếm miền Nam, ông bị đi học tập hơn ba năm. Về nhà chạy gạo không ra, quyền công dân bị tước đoạt, hết đường sống, ông phải vượt biên. Thật ra tuổi đời cũng đã về chiều, ông thường tâm sự với Cung rằng, có ra xứ người rồi mới biết chẳng đâu bằng quê hương cả! Ra đi là vạn bất đắc dĩ! Bỏ làng, bỏ xóm, bỏ mồ mả ông cha là cả một vấn đề hệ trọng. Đúng là con người sinh ra ở đâu thì nên ở đó. Á phải sống ở Á để hợp với phong thổ, hoàn cảnh sống với Á. Âu thì phải sống ở Âu. Bắt cái này bỏ qua chỗ kia, người thuộc về nơi này, quen với đời sống xứ này, rồi bỗng dưng mang đi một nơi khác, cái gì cũng khác, từ cảnh vật đến con người,  thì lâu lắm mới có thể hội nhập.

Hồi mới đến, ông ăn ngủ không yên, suốt ngày nhìn trời nhìn đất rồi thở dài. Ông lại trách Thượng đế sao tạo nên những đắng cay nghiệt ngã cho dân tộc Việt. Từ ngày ra đời, chỉ thấy quê hương rách nát vì chiến tranh, vì tham vọng thực dân của ngoại bang. Và khi chiêu bài đánh đuổi ngoại bang đã đạt được, giành lại độc lập cho xứ sở thì chính những người anh em, nói là cùng giòng máu, nhưng lại khát máu hơn ngoại bang. Hận thù chồng chất ngày càng cao như núi Thái Sơn! Không biết đến bao giờ quê hương mới thật sự thanh bình, tự do, công bằng, bác ái để ông quay về rồi chết cũng thoả mãn. Trong nước thì trông chờ tin ở hải ngoại, nghe nói tổ chức này nọ mọc lên để phục quốc. Nhưng ra ngoài này rồi mới thấy chẳng có mẹ gì cả! Toàn những chuyện trình diễn nhố nhăng thấy ngứa mắt.

Ông Đầy thường thăm hỏi ông An về những hoạt động chính trị ở hải ngoại, nhưng ông An cứ khuyên bảo hãy lo kinh tế cho gia đình trước đã. Thực tế nhất là như vậy, nói về mặt tâm lý, ai đến xứ người cũng sôi gan nóng ruột, trông ngóng tin tức, hy vọng có những đổi thay ở quê nhà. Hồi ở trại tỵ nạn, nghe còn này nghe nọ, ông Đầy mang thật nhiều hy vọng…

Bây giờ ở xứ người tiếng Anh không biết cũng như câm như điếc, không đọc được báo, không nghe được tin là một mất mát lớn. Lâu lâu vớ được một tờ báo cũ, tin tức thế giới, Việt Nam cũ rích cũ rang làm ông cứ nôn nóng như đốt lửa trong bụng.

Giờ có Cung ở chung còn đỡ, thỉnh thoảng cũng bàn được chuyện tình hình tổng quát với chàng. Nhưng mai mốt chú đi làm còn ai để bàn chuyện quê hương đất nước, ông Đầy bất chợt thở ra rồi lên tiếng:

–  Chị em tụi bây rán mà lo sinh sống sau này, thế nào tao cũng tìm về bên kia để tính chuyện với bọn nó.

Tuyết đang ngồi đọc mấy tờ báo cũ, nghe ông Đầy thở ra rồi nói một cách chán nản là nàng đã biết ông muốn nói gì. Tuyết xếp tờ báo, đi lại mở tủ lạnh, uống một hớp cô-ca rồi khuyên nhủ ông Đầy:

–  Ba phải thực tế hơn một chút! Hồi còn ở quê nhà ba có làm được gì đâu? Bây giờ hơn nửa trái đất rồi, làm sao mà ba về được để tính chuyện viễn vông. Điều cần thiết là chúng ta phải có việc làm. Nếu ba và thằng Lô có việc, con sẽ xin đi học cho có nghề nghiệp, mai mốt đi làm rồi tìm cách đem má và hai thằng nhỏ qua, xong xuôi đâu đó tính gì hẵng tính ba à.

Ông Đầy nghe Tuyết nói cũng có lý, nhưng trong lòng vẫn chán nản:

–  Tính gì thì tính, nhưng tao vẫn muốn một ngày nào đó khi quê nhà không còn bọn Việt Cộng là tao về ngay.

Tuyết phụ họa cho ba vui lòng:

–  Ai mà không ao ước như vậy, nhưng ba nghĩ làm sao cho hết Việt Cộng được đây! Theo con thì khác, đã đến được xứ tự do rồi phải lo cho gia đình êm ấm, cho má và hai em đoàn tụ là điều thực tế nhất.

Ông Đầy lý luận:

–  Nói như mầy hóa ra quá ích kỷ, chỉ biết lo chừng ấy thôi à!

–  Ba già rồi, còn tụi con chưa làm gì được cả, nghĩ vậy không đúng hay sao? Thực tế nữa là bà con bên nhà cơm không có ăn, áo không đủ mặc, rách rưới tồi tàn, thiên hạ đảo điên, xã hội loạn lạc, đói khổ, lầm than… e có ngày nổi loạn!

Ông An và Cung nãy giờ lắng nghe hai cha con ông Đầy đối đáp, ông An lên tiếng:

–  Cháu Tuyết nói đúng lắm anh Đầy ạ. Hãy cố gắng làm lại cuộc đời bên này trước đã. Bởi anh cứ ở nhà nhìn trời, nhìn đất suy nghĩ lung tung rồi đâm ra chán nản, tuần sau tôi đưa đi làm là anh sẽ thấy thoải mái ngay à.

Ông Đầy mời Ông An uống nước rồi xuống giọng:

–  Thật ra, tôi cũng quá lo rồi đâm chán, tiếng tăm thì không biết một chữ! Làm sao mà đi làm được đây!

Ông An nhìn Tuyết tỏ vẻ thông cảm cho những lo âu sẵn có ở trong lòng của người mới đến, ông tươi cười:

–  Khi tôi nói tuần sau tôi tới chở hai người đi khám sức khỏe là ăn chắc. Công việc làm cũng dễ thôi, vả lại ở đó có rất nhiều người Việt làm, có gì họ chỉ cho, đừng lo!

Cung nãy giờ im lặng, giờ nghe nói tới đi khám sức khỏe chàng lên tiếng:

–  Công việc gì vậy thưa anh?

–  Thì công việc lao động ấy mà, cố gắng làm tạm đi, kiếm ít tiền để giải quyết những khó khăn trong giai đoạn hiện tại trước đã. Mai mốt học được nghề gì đó rồi kiếm chỗ làm khá tiền hơn. Nói thật với hai anh, kinh tế cả nước Mỹ hiện đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơn khủng hoảng dầu lửa thế giới hai năm qua. Tình trạng nhân công thất nghiệp trên toàn quốc đang gia tăng, Tổng Thống Reagan cố gắng dồn hết mọi nỗ lực vào việc xây dựng kinh tế, quân bình lại lãi xuất, hy vọng một thời gian nữa sẽ khá hơn. Thật ra,  hy vọng thì cứ hy vọng cho người tị nạn mình có công ăn việc làm, xây dựng lại cuộc đời trên đất người là điều mà ai cũng mong muốn. Đại khái là cứ như vậy đi!

Thấy Cung chú ý đến tình hình kinh tế, ông An lại giải thích:

–  Anh biết không? Nước Mỹ giàu thì giàu thật, dân thì người nào cũng có đời sống cao, nhưng chính phủ lại nợ đầy đầu, khiếm ngạch lên tới hàng tỉ dollars. Tổng thống nào lên cũng hứa hẹn quân bình ngân sách, nhưng rốt cuộc có ông nào làm nổi đâu. Lại phải in thêm công khố phiếu để trang trải. Tôi chỉ sợ rằng ở lâu trên xứ này rồi con cháu mình cũng phải lãnh nợ khi nước Mỹ xuống dốc mà thôi.

Thấy ông An nói thao thao về kinh tế nước Mỹ, Cung cám ơn sự giải thích tận tình của ông và nhanh miệng đổi đề tài:

–  Thật ra việc gì chúng tôi cũng làm được cả, ngại gì mệt nhọc miễn có anh hướng dẫn cho bước đầu khó khăn là phước lắm rồi.

Ông An thành thật:

–  Đấy là công việc làm của tôi, bên cạnh đó tôi cũng cảm thấy vui mỗi khi thấy người mình có công ăn việc làm, rồi sau đó tự túc không phải bám vào bất cứ một cơ quan từ thiện nào cả là tôi cảm thấy hãnh diện. Nói thật với các anh, những người… ở đây cả mấy năm rồi mà cứ bám vào cơ quan xã hội làm cho người ta khinh bỉ vô cùng. Cực chẳng đả lắm mới trông vào trợ cấp xã hội. Ở đâu thì tôi không biết, nhưng quanh vùng này người Việt mình siêng năng, cần cù làm dân bản xứ cũng nể nang lắm.

Mấy ngày sau, Cung, ông Đầy và thằng Lô đều có việc tại một hãng làm bánh mì. Công việc tuy cực nhọc, nhưng nhờ sự cố gắng và giúp đỡ hết mình của những người đồng hương cùng sở nên mọi sự khó khăn trong bước đầu đã qua.

Hai tháng sau, dành dụm được một số tiền, thằng Lô mua được chiếc xe cũ để đi lại. Tuyết ở nhà nấu ăn, chăm sóc nhà cửa và đi học vào buổi tối. Có làm lao động trên đất Mỹ mới thấy sự tổ chức, quản trị công việc với một hệ thống hành chánh và kỹ thuật cao; nhờ vào đó mà nhân công tuy làm nhiều giờ nhưng vẫn cảm thấy thoải mái bởi lương bổng được ấn định rõ ràng.

Nhân công đổ mồ hôi thật sự, nhưng được đổi lại bằng những đồng dollar có giá trị, có khả năng để trang trải cho một đời sống tiện nghi. Cứ thế mà nó đã tạo được sức mạnh, thu hút con người lăn xả vào để mưu sinh trong một xã hội văn minh. Đúng là nơi đáng được gọi “lao động vinh quang”. Siêng năng, chịu khó đi cày là có tiền, chắc chắn sẽ có một đời sống tương đối thoải mái mà không bị ai bóc lột.

Ngược lại, trong cái xã hội chủ nghĩa của Cộng sản, người ta nói lao động tốt, lao động vinh quang, làm cho chết, làm còn hơn sức trâu bò mà vẫn không đủ ăn, không nuôi nổi bao tử của chính mình, chứ đừng nói lo cho người khác, hoặc sắm cái này mua cái nọ.

Mấy hôm rồi Cung tình nguyện làm ca đêm và làm thêm giờ phụ trội, ban ngày về nhà ngủ ly bì, ngủ quên cả ăn. Tuyết càng ngày càng thân chàng hơn, lo lắng cho Cung đủ thứ: nấu ăn, giặt áo quần, nhắc Cung làm chuyện này, chuyện nọ… Những ngày nghỉ cuối tuần, Tuyết thường hay rủ Cung đi chợ, đi shopping mua đồ dùng, hoặc dạo phố khơi khơi không một mục đích nào cả.

Cung là người lái xe vững nhất nhà, nên Tuyết đã lấy lý do này để đi bên cạnh chàng. Thật ra, trong lòng Tuyết đã có sự hiện diện của Cung, đã yêu chàng rồi. Rất nhiều lần Tuyết cố tình tạo cơ hội cho Cung tiến tới, nhưng chàng vẫn cố tạo một khoảng cách. Riêng Tuyết, gần đây đã hoàn toàn tránh mặt những chàng thanh niên trong vùng thường hay lui tới tán tỉnh. Cung cũng biết rõ tình cảm của Tuyết đối với chàng qua cử chỉ, qua ánh mắt trìu mến mỗi lần bên nhau. Tuy vậy, chàng vẫn cố tránh né và tự đặt mình vào vai vế của một người chú đối với nàng. Những lần ngồi ăn cơm, hoặc nói chuyện gẫu, Tuyết thường nhắc đến Thúy một cách tò mò:

–  Mấy bữa nay không thấy chú viết thư cho chị Thúy?

Cung vui vẻ nói liền:

–  Có chứ. Không lẽ mỗi lần viết phải báo cáo cho Tuyết biết hay sao?

Biết Cung chỉ nói giỡn, nhưng Tuyết hơi quê. Nàng phân bua:

–  Thì cháu nhắc vậy thôi. Khi nào chị ấy mới qua đoàn tụ với chú đây?

Cung nhìn Tuyết, rồi nhìn ra ngoài trời lo lắng:

–  Không biết có gì trục trặc đây. Chưa nghe hội thông báo gì cả!

Tuyết nhìn Cung, muốn góp ý kiến, nhưng lại đổi đề tài:

–  Chị Thúy chắc là đẹp và hiền lắm phải không chú?

–  Thì cũng vậy thôi, Tuyết thấy hình mới nhất nhận vào tuần trước rồi đó.

Tuyết có vẻ đăm chiêu hơn mọi lần, nàng vừa xới cơm cho Cung vừa nói như muốn thổ lộ tâm tình:

–  Chị Thúy thật tốt số, có người lo lắng cho đủ thứ. Còn Tuyết thì chả có ai!

Cung nhận chén cơm từ tay Tuyết rồi đáp ngay:

–  Tại Tuyết không muốn thôi chứ thiếu gì thanh niên lui tới, tằng hắng cái một là có cả đại đội chạy theo mà?

Giọng Tuyết nghe buồn buồn như muốn trách móc:

–  Người mà Tuyết nghĩ tới thì họ… thì họ chẳng bao giờ muốn nghĩ tới mình!

Cung hiểu ý Tuyết, nhưng chàng cố tình lái câu chuyện qua một đề tài khác:

–  Sao, đi học thấy vui không? Cố gắng cho thông thạo tiếng Anh cũng đỡ lắm Tuyết ạ?

Từ hôm làm ca đêm, Cung phải thay đổi giấc ngủ, mỗi buổi chiều thức dậy là đã thấy Tuyết ngồi chờ chàng ở bàn ăn. Dạo này Tuyết diện và đẹp ra thấy rõ, cử chỉ và cách xưng hô cũng có phần thay đổi, khi thì chú, khi thì giả vờ lỡ miệng gọi Cung bằng anh.

Chủ Nhật tuần rồi Tuyết rủ chàng đi Dallas, xuống khu vực có đông người Việt để dạo chơi, nhưng Cung quá mệt mỏi vì công việc nên chàng từ chối. Tuyết làm mặt giận, Cung vờ không để ý tới, hẹn Chủ Nhật sau sẽ cùng ông Đầy và thằng Lô đi xuống vùng Garland, Dallas ăn phở và mua thực phẩm Á Đông một thể. Tuyết đành chịu thua nhưng trong lòng vẫn tức tối vì Cung đã không để ý đến mình. Nhiều lúc vắng vẻ, hoặc những lần bên nhau, Tuyết thường xa gần và tìm cách mở cờ cho Cung ra trận, nhưng lần nào chàng cũng trốn chạy một cách khôn ngoan.

Sáng Chủ Nhật sau, Tuyết thức dậy sớm sửa soạn áo quần, gõ cửa phòng và đánh thức Cung dậy để đi ăn phở như Cung đã hứa:

–  Chú Cung! Dậy đi! Hứa với người ta là phải đi đó nhá!

Cung vặn người kêu răng rắc, rồi ngồi phắt dậy:

–  Bác và thằng Lô dậy chưa?

Tuyết lộ vẻ vui mừng:

–  Ba dậy rồi, nhưng ổng đi qua khu apartment bên kia chơi với ông bạn già mới quen hôm kia rồi.

Hết chương 2 (Còn tiếp…)

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*