Linh Vang: NV Nguyễn Mạnh An Dân

Một góc trời Tây Bắc…

Lần đầu tiên tôi nghe đến tên anh là khi người anh họ của tôi là anh Sông Côn đưa một bài viết của anh vào diễn đàn Đặc Trưng, và anh SC kêu tôi vào đọc đi, bài của một cây viết gốc người Bình Định (như anh và tôi). Anh SC cũng rủ tôi gia nhập vào diễn đàn này, nói là sinh hoạt cho vui, và bày tôi cách gia nhập.

Tôi nhận ra là mình đã biết trễ, hẳn cũng 5 năm là ít để biết về trò chơi diễn đàn, thế giới ảo.

Nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân – Linh Vang. Đó là bài viết về những quán cà phê ở Sài Gòn vào những năm 60, 70.

Hai anh có nhiều điểm giống nhau: đều là người Bình Định; cựu học sinh trường trung học Cường Để, Quy Nhơn; sau đó xa nhà, tiếp tục việc học trong Saigon, ở cư xá Minh Mạng dành cho sinh viên; và cùng có cái thú uống cà phê, rành nhiều tiệm quán cà phê ở SG.

Bài viết đó tạo một không khí sống động, nhớ quê hương ngút ngàn cho những anh chị lớn tuổi hơn tôi trong diễn đàn, khi nhắc tới những quán cà phê quen thuộc mà họ đã hay đi uống khi còn ở SG, một cái thú mà tôi vì còn nhỏ tuổi khi còn ở quê nhà nên đã không biết.

Sau này, tôi có dịp đọc nhiều bài của anh Nguyễn Mạnh An Dân khi cùng sinh hoạt trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhưng vẫn chưa gặp mặt nhau ngoài đời, cho tới khi tôi về sinh hoạt ở trung tâm nơi anh từng làm chủ tịch 2 nhiệm kỳ, là Trung tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ, Houston.

Giờ Cuối Ở Một Đơn Vị Nhỏ là một truyện ngắn nhưng lại rất dài, trên 17 ngàn chữ.
“Giờ Cuối”, tôi có thể đoán được phần nào cái đoạn kết, nhưng tôi vẫn hồi hộp đọc một mạch xem cái đơn vị nhỏ bé, lẻ loi, tan thương này có qua được vùng quốc gia hay không. Đoạn cuối của truyện đã làm tôi bật khóc. Bị bao vậy tứ phía, trải qua bao gian lao, kẻ còn, người mất,…niềm hy vọng cuối cùng là qua được sông. Dòng sông Vàm Cỏ rộng lớn phía sau như một chướng ngại vật thiên nhiên tuyệt vời bảo vệ mặt lưng đơn vị, còn phía trước là quân bạn, như vậy không có gì đáng lo ngại nữa…(Nguyễn Mạnh An Dân).

Thế mà…!

Lần gặp mặt thứ hai khi tôi về Houston dự Văn Bút, đứng nói chuyện với nhau nhiều hơn, tôi mới có dịp cho anh biết cảm tưởng của tôi khi đọc cái truyện này – mà khi đó đã không nhớ cái tựa đề, chỉ nhớ là một nhóm lính VNCH cố thoát vùng vây khắp phía của quân thù cs, tìm về vùng quốc gia.

Anh nói, thấy sao viết vậy, không có bố cục, sắp xếp gì cả.

Khi chấm dứt câu chuyện, tôi lại nói với anh câu tôi vẫn hay nói. Em nợ các anh.

Dưới đây là đoạn văn cuối của truyện ngắn Giờ Cuối Ở Một Đơn Vị Nhỏ:

… Tùng sang sông theo đợt quân cuối cùng. Đơn vị đã qua hết và mọi người đang nằm, ngồi rải rác trên cánh đồng. Phía xa đằng trước là một xóm nhà rải dọc theo quốc lộ, với xe cộ đi lại tấp nập trên đường. Niềm vui về được đất nhà như làm mọi người hồi sinh, quên hết mệt nhọc. Tùng thở phào như trút được một gánh nặng, để mọi người tự do muốn làm gì thì làm. Tùng nhìn bao quát lượng định tình hình. Dòng sông Vàm Cỏ rộng lớn phía sau như một chướng ngại vật thiên nhiên tuyệt vời bảo vệ mặt lưng đơn vị, còn phía trước là quân bạn, như vậy không có gì đáng lo ngại nữa… Tùng định sẽ để mọi người nghỉ ngơi, cho người tải thương vào xóm và mua đồ ăn uống, sẽ ngủ một đêm an toàn trước khi liên lạc để nhận nhiệm vụ mới, anh ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào bờ ruộng nhìn ra đường. Nắng chiều dìu dịu và bầu trời trong xanh, Tùng mỉm cười nhìn xe cộ chạy xa xa và thấy vui vui khi nghĩ đã có lúc Thiên Kim đi lại trên con đường này. Người hạ sĩ già mang đến cho Tùng một gói mì khô và nói vui vẻ:
– Tôi có mang đủ đồ cho Trung úy mà nặng quá, bỏ dần, Trung úy dùng đỡ gói mì.

Tùng mỉm cười, dễ dãi:

– Còn gói nào anh ăn đi, rồi vào xóm kiếm cái gì cho tôi, mình khao quân xôm xôm một chút.

Tùng nói và mở gói mì nhai từng miếng nhỏ. Suốt ngày không có gì trong bụng, cơn đói và niềm vui làm Tùng thấy những cộng mì ngọt ngào, thơm ngon lạ thường, Tùng vừa ăn vừa nhìn ra chung quanh, những người tháp tùng đã lần lượt vào xóm, trên cánh đồng rộng chỉ còn các binh sĩ thuộc quyền của Tùng. Anh em một số đang nói chuyện, số khác đang nằm lăn ra đất, đồ đạc, súng ống vứt bừa bãi không chút e dè, phòng bị. Tùng nhìn thấy nhưng không nói gì, kệ, để anh em được sống bình thường, được làm người bình thường hưởng một chút thoải mái, nghỉ ngơi hiếm có này.

Tùng rất thương những người lính của mình, đa số họ còn rất trẻ, chiến trường như một phán quan khó tính và độc ác, nó loại bỏ dần từng con người, cướp đi từng mạng sống, ít ai kịp lớn, kịp già trong chiến tranh và một lớp người khác phải thay thế. Tùng rất hiểu những chàng trai tội nghiệp này, họ cũng có một thôn làng, một góc phố, một mái nhà nào đó để nhớ về; một nụ cười, một mái tóc nào đó để nghĩ tới; họ cũng cần những phút mơ mộng, lang thang uống một ly cà phê, nghe một bản nhạc; những ước mơ rất bình thường, rất con người mà họ phải từ bỏ tất cả; đời sống có một chút kiêu hãnh nhưng rất nhiều chua xót. Tùng hiểu và anh đã cố gắng dung hòa giữa trách nhiệm của một cấp chỉ huy và tình thương của một người anh, nghiêm khắc tuyệt đối khi cần thiết và thoải mái tối đa khi có thể.

Tùng cởi giày, vắt khô đôi vớ dày đẫm nước và bóp bóp hai bàn chân bạc tãng, nhăn nhúm vì bị bó ướt quá lâu của mình, anh nằm dài ra đất nhìn trời và suy nghĩ mông lung: không biết giờ này Tiểu đoàn ở đâu? Trung đoàn ra sao? Sư đoàn thế nào? Không biết Thiên Kim đang làm gì? Ở đâu? Còn cha mẹ? Tùng thấy xốn xang, đau đớn. Niềm vui thoát hiểm chỉ thoáng qua nhưng nỗi lo trước mắt dằng dặc. Tùng ngồi dậy, anh nghĩ phải vào xóm ngay, phải hỏi thăm tin tức, phải liên lạc với đơn vị và tái phối trí tức thì. Tình hình này không thể và không được nghỉ ngơi gì cả. Tùng thấy mình giống như một đứa trẻ quá hưng phấn đã muốn tự tưởng thưởng mình làm được một bài toán khó bằng cách bỏ dở một buổi học. Không được, đơn vị anh đã bỏ Hậu Nghĩa, biết đâu, nhiều đơn vị khác cũng làm công việc tương tự như thế ở nhiều nơi khác và tình hình chung chưa biết thế nào, chuyện gì cũng có thể xảy ra và thời gian lúc này không thể tính bằng tháng, bằng ngày mà phải từng giây, từng phút.

Tùng vội vã mang giày. Có nhiều tiếng lao xao và một nhóm người bu lại ở một góc xa. Tùng nhìn thấy một người đàn bà đứng tuổi đang quơ chân, múa tay nói một điều gì đó và nhiều người chỉ về phía Tùng. Tùng ngồi thẳng người khi người đàn bà đến gần, chị ta nhìn Tùng và hỏi trổng:

– Anh chỉ huy toán quân ngụy này?

Tùng trừng mắt, anh hết sức khó chịu khi nghe giọng điệu của người đàn bà nhưng cố dằn lòng trả lời, cộc lốc, thách thức.
– Vâng, chị là ai, muốn gì?

Người đàn bà tiếp tục nhìn Tùng đăm đăm như đang đánh giá, ước tính một điều gì đó rồi mới mỉm cười, nói lớn, không trực tiếp trả lời câu hỏi của Tùng:

– Quân đội nhân dân đã làm chủ khu vực này, chính quyền cách mạng yêu cầu các anh buông súng.

Tùng mở tròn mắt, anh hỏi lại như không tin vào tai mình:

– Chị nói gỉ?

Người đàn bà chậm rãi nói tiếp:

– Tôi là ủy viên hội liên hiệp phụ nữ giải phóng, đây là xã Tân Thới Nhì. Huyện Hóc Môn. Tôi được huyện ủy và bộ chỉ huy quân sự huyện ủy nhiệm, đến đây thông báo cho anh rõ: toàn bộ các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Dương đã được giải phóng; Hóc Môn và khu vực chung quanh sân bay Tân Sơn Nhất, Bà Quẹo cũng đã được giải phóng, Quân đội nhân dân đang tiến về tiếp quản Sài Gòn, yêu cầu anh ra lệnh cho binh sĩ buông súng trình diện chính quyền Cách mạng.

Tùng sững sờ, anh bỏ mặc người đàn bà, đứng lên cầm ống dòm nhìn vào xóm nhà. Khắp một tuyến dài dọc theo bìa xóm có bóng những người lính ghìm súng hướng ra cánh đồng; trên đường, tất cả các xe đều có lá ngụy trang và cắm cờ xanh trắng, sao vàng. Tùng hiểu mọi sự, hiểu sự ỷ y, lầm lẫn của mình, anh lặng lẽ ngồi xuống, nhìn thẳng người đàn bà, chậm rãi:

– Tôi hiểu, nhưng tôi không thể trả lời cho chị ngay bây giờ, tôi cần thời gian, chị đi đi.

Người đàn bà ngần ngừ một chút rồi đề nghị:

– Anh làm gì cứ làm đi, tôi chờ để biết ý kiến của anh.

Tùng không muốn bất kỳ ai, nhất là người đàn bà đại diện cho kẻ thù chứng kiến những giây phút khó khăn, chua xót của đơn vị mình, anh nói dứt khoát:

– Không được, chị ngồi đây tôi sẽ không giải quyết gì hết, tùy chị.

Người đàn bà mỉm cười, tỏ vẻ dễ dãi, cởi mở của một người đang có ưu thế:

– Cũng được thôi, nhưng báo anh biết chúng tôi không có nhiều thì giờ, lực lượng của chúng tôi đầy đủ trong kia, chúng tôi đã sẵn sàng từ lúc các anh chưa sang sông, nhưng hòa bình rồi, giải phóng rồi, không nên đổ máu vô ích nữa, cả hai bên, anh suy nghĩ đi.
Người đàn bà nói xong quay người đi vào xóm nhà, Tùng ngồi im như một pho tượng. Tin tức về tình hình thất lợi đã lan khắp đoàn quân, mọi người đều bật dậy, im lặng đến gần vây quanh lấy Tùng, tất cả đều mang súng ống sẵn sàng.

Tùng lặng lẽ nhìn khắp một lượt anh em, ánh mắt của mọi người làm Tùng bối rối và đau xót. Tất cả mọi người đều chăm chú nhìn Tùng như chờ đợi, như dò hỏi, như hy vọng, như trao gởi và tin cậy. Tùng cúi gằm mặt xuống, mắt mờ đi: “Đừng nhìn tôi, đừng hy vọng gì ở tôi nữa anh em ơi! Chúng ta đã lạc mất đơn vị từ sáng nay, tôi cũng nhỏ nhoi yếu đuối lắm, tôi cũng hy vọng và chờ đợi một lời khuyên, một mệnh lệnh nhưng không có gì cả, không còn ai cả. Anh em chúng ta đều lạc lõng, tội nghiệp và vô vọng như nhau. Tôi biết nói gì với anh em? Tôi quyết định được gì cho anh em? Tôi chỉ là một sĩ quan quá nhỏ bé trong quân đội, mọi quyết định ở một chỗ khác, mọi trách nhiệm cũng ở một chỗ khác, nhưng hoàn cảnh đã biến tôi thành cái gạch nối gần nhất của cả một hệ thống chỉ huy không hoàn thành trách nhiệm trước anh em, tôi phải làm tròn vai trò đó và cá nhân tôi, tôi nhận lỗi và xin thông cảm cho tôi. Tôi xấu hổ vì sự bất lực của mình nhưng tôi cũng hãnh diện được có mặt bên cạnh anh em, chia xẻ với anh em những giờ phút hào hùng và bi thảm cuối cùng. Tôi không thể phiêu lưu dẫn anh em lùi lại trong cánh đồng bưng; tôi cũng không thể điên cuồng ra lệnh cho anh em tấn công vào xóm nhà, tấn công giữa một khu vực không còn quân bạn, chúng ta không còn một nơi nào để nhắm tới, tôi không còn một cách nào khác, xin hiểu cho tôi…”

Tùng chấm dứt dòng suy nghĩ và chậm rãi đứng lên. Mọi người im phắc và tất cả nóng lòng hồi hộp chờ nghe một điều gì đó từ người chỉ huy của mình. “…Tội nghiệp anh em quá, tội nghiệp tôi quá, chúng ta không có phép lạ nào hết, không có ơn phước nào đến với chúng ta lúc này hết, phải can đảm chấp nhận thực tế chua cay của số phận mình anh em ơi…”

Tùng thấy mắt mình cay cay, anh nghẹn ngào nói tiếp:

– Hoàn cảnh của chúng ta anh em đã biết hết rồi; sáng nay tôi rất hy vọng và có hứa đưa anh em về nơi an toàn, anh em đã cố gắng hết sức và tỏ ra rất xứng đáng, rất can trường, tôi ghi nhận và xin cảm ơn, tiếc là chúng ta đã đến quá muộn, tôi đau đớn lắm và tôi biết anh em cũng như thế nhưng không biết làm sao hơn…

Có nhiều tiếng xì xào trong hàng quân, nhiều người gục đầu chảy nước mắt. Tùng ngừng lại lấy khăn lau mặt rồi ngước lên nói nhanh, mắt đỏ hoe không nhìn ai:

– Thôi, chúng ta không có thì giờ. Kể từ giờ phút này tôi không còn là cấp chỉ huy của anh em nữa, xin anh em tự lo liệu, chúc anh em may mắn.

Hàng quân trở nên hỗn loạn, mọi người đứng lên bu kín lấy Tùng, mỗi người tranh nhau nói một câu, tất cả đều muốn ở lại, muốn theo Tùng. Tùng lắc đầu, anh nói từ tốn:

– Cảm ơn anh em nhưng không được, tôi không còn làm gì cho anh em được nữa hết, đừng mất thì giờ, không biết chúng ta có còn được gần nhau lâu nữa không, xin chia tay và hy vọng có ngày gặp lại anh em. Thôi, anh em cho tôi yên một chút.
Tùng nói xong những điều khó nói nhất, anh thẫn thờ ngồi xuống và im lặng không nhìn ai. Đám đông ồn ào, chộn rộn, có người hớt hải lo âu, có người phẩn nộ uất ức, đau đớn oán than, họ bịn rịn và e dè chờ đợi một lúc rồi cũng lẻ tẻ kéo nhau vào xóm. Đoàn người vắng đi dần dần, chung quanh Tùng chỉ còn Mưu, mấy sĩ quan Trung đội trưởng, người hạ sĩ già nấu bếp, mấy âm thoại viên và toán biệt kích Đại đội, những người đã từng gần gũi, lăn lộn sống chết nhiều phen với Tùng. Mưu e dè lên tiếng:

– Trung úy coi lại xem có cách nào khác không?

– Không!

– Vậy chúng ta cũng vào à?

– Đúng!

Mưu tần ngần một chút rồi nói tiếp:

– Tôi không dám trách trung úy, nhưng hình như ông hơi vội!

Tùng cười buồn, anh cầm tay Mưu:

Cậu nói đúng một phần, nếu tôi đi một mình, hoặc nếu tôi không bị ràng buộc gì với ai, có thể tôi cũng sẽ nghĩ như cậu, nhưng tôi còn chỉ huy, tôi còn trách nhiệm – trách nhiệm cuối cùng – tôi không thể liều lĩnh được. Người đàn bà hồi nãy có nói một điều đúng “không nên để xương máu đổ thêm nữa”, không ích lợi gì trong hoàn cảnh này, cậu hiểu giùm tôi.

Tùng không nói gì thêm, anh im lặng tháo băng đạn khẩu súng colt, lơ đãng lấy tay bấm cho những viên đạn rơi xuống đất rồi hờ hững bỏ súng vào bao, cuốn giây ba chạc gọn ghẽ quanh chiếc nón sắt ngay ngắn như những lần so hàng trong quân trường, ngồi trầm ngâm một chút rồi đứng lên buông thõng mấy tiếng:

– Thôi mình đi.

Tất cả đứng lên theo. Tùng như chợt nhớ ra, nói vội với mọi người.

– À! Chút nữa tôi quên, anh em nào biết nhà Trung úy Thắng, Thiếu úy Còn và các anh em thiếu may mắn khác, nếu được về sớm báo giùm tình trạng của các anh em ấy. Tôi sợ không làm được, sợ khó về. Đây là điều cuối cùng chúng ta có thể làm cho nhau, anh em cố gắng, tôi cảm ơn. (Giờ Cuối Ở Một Đơn Vị NhỏNguyễn Mạnh An Dân)

Ngoài tình đồng hương, còn tình văn bút, LV xin gửi tới anh Nguyễn Mạnh Dạn, tức nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân một nén hương tưởng nhớ anh.

Anh vừa mới mất do một tai nạn xe cộ ở Houston, nơi anh cư ngụ.

Mỗi lần làm gì, đi đâu, anh luôn luôn cho chị Dạn biết vì chị đi đứng khó khăn, mắt lại kém. Anh chị chỉ có một cháu trai, vừa ra trường, nhận công việc ở xa.

Hôm đó, chị không biết là anh đã đi đâu.

Hấp tấp gì, vội vã gì mà không cho chị biết, hở anh?

Linh Vang

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*