K‎ý Thiệt: Mãnh hổ hay mèo rừng?

Năm 1975, sau khi xé bỏ tờ giấy lộn Hiệp Định Paris 1973 và dốc toàn lực đánh chiếm được Miền Nam VN, đảng Cộng sản  VN say men chiến thắng huênh hoang cho rằng đã hạ gục đế quốc Mỹ.

Trong buổi lễ mừng đại thắng tại Hà-nội ngày 15.5.1975, Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng CSVN, ngông nghênh tuyên bố:

“Chúng ta có đủ tinh thần và nghị lực, sức mạnh và tài năng để khắc phục mọi khó khăn, vươn lên những đỉnh cao của thời đại, biến đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề và trên đó đế quốc Mỹ đã gieo biết bao tội ác, thành một nước văn minh, giàu mạnh, thành trì bất khả xâm phạm của độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương và Đông Nam Á.”

Image result for “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Với tham vọng ngông cuồng ấy, Đại Hội Đảng  kỳ IV (1976) đã đưa ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa để “quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, rập khuôn theo chủ thuyết Mác-Lênin, chủ quan và mù quáng thi hành chế độ quan liêu bao cấp, đã đưa nền kinh tế quốc doanh tới bên bờ vực thẳm.

Phải tìm đường tự cứu, Đại Hội Đảng CSVN kỳ VI (1986) đã  ra quyết định gọi là “đổi mới”, thực ra chỉ là trở lại con đường cũ của chủ nghĩa tư bản với tên mới là “kinh tế thị trường”, tử bỏ chế độ “quan liêu bao cấp”, nhưng lại là thứ kinh tế thị trường nửa mùa, đổi mới kinh tế mà chính trị thì vẫn độc tài độc đảng, được gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, không ai biết hình thù nó ra sao, giải thích nó như thế nào.

Chính sách “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, đã tạo ra một xã hội phồn vinh giả tạo của một thiểu số được ưu đãi, càng ngày càng giàu trong khi đại khối nhân dân càng nghèo khổ, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo mỗi ngày một thêm sâu rộng, và tham ô nhũng lạm lan tràn . Đó là “định hướng xã hội chủ nghiã”?!

Cái quái thai “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” thay vì đưa Việt Nam trở thành một “mãnh hổ” của Châu Á thì lại chỉ là một loại “mèo rừng”, như nhận xét của Tiến sĩ Phạm Văn Thuyết, người đã về VN làm việc trong lãnh vực kinh tế nhiều năm và đã viết một cuốn sách về nền kinh tế thị trường bị cùm chân (Mãnh Hổ Hay Mèo Rừng).

Nguyễn Trung, một trí thức của CHXHCNVN, cũng phải công nhận như vậy dù đã đánh giá quá cao thành quả nhất thời của “đổi mới”:

“Kinh tế nước ta thực sự phát triển kể từ khi tiến hành đổi mới 1986, ngày nay đạt mức ‘nước đang phát triển có thu nhập trung bình (thấp)’. Nếu so sánh nước ta hôm nay với nước ta 1986, kinh tế nước ta đã đi được một chặng đường dài: từ nước chậm phát triển lên nước đang phát triển, giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế – xã hội quan trọng được thế giới ghi nhận. Đã có lúc kinh tế nước ta giành được sự phát triển ngoạn mục (nhất là thời kỳ 1986 – 1995…), trên thế giới người ta đã bắt đầu nói tới ‘con hổ Việt Nam’, nhưng con hổ này chưa kịp cất lên tiếng gầm nào thì đã biến mất tăm.”

Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam đã tụt hậu quá xa so với các nước trong Vùng Đông Nam Á, lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng, mà nước “Cộng Hòa Nhân Dân” khổng lồ này nhờ đi theo triết l‎ý “mèo trắng mèo đen” cuả Đặng Tiểu Bình, và khai thác sai lầm của Mỹ trong mấy chục năm, đã leo lên hàng thứ hai trên thế giới về kinh tế, chỉ sau Hoa Kỳ. Nhưng nền kinh tế khổng lồ ấy cũng chỉ là cái lâu đài xây trên cát và đang lung lay trước cơn lốc dữ dội do ông tổng thống Mỹ đương thời gây ra.

Cơn lốc ấy cũng đang làm chao đảo nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của CSVN. Mới đây, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, một kinh tế gia khá nổi tiếng trong cộng đồng ta tại Mỹ, qua một bài phỏng vấn do Phóng viên Nguyên Lam của RFA thực hiện, đã chỉ đường mách lối cho CSVN làm kinh tế trong cuộc “thương chiến” giữa Donald Trump và Tập Cận Bình:

(Trích)

Image result for “Nguyễn Lân, RFA phỏng vấn Nguyễn Xuân Nghĩa

“Nguyên Lam:  Thưa ông, cuộc chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc – mà ông thường gọi tắt là thương chiến Mỹ-Hoa – sẽ tăng cường độ và kéo dài. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam sẽ được lợi thế vì nhiều doanh nghiệp nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam như thị trường thay thế, nhưng cũng có thể gặp vấn đề nếu đấy là doanh nghiệp xuất phát từ Trung Quốc. Đã vậy, dường như là tình hình không chỉ có mâu thuẫn giữa hai nền kinh tế lớn nhất từ hai bờ Thái Bình Dương mà còn có vai trò của Nhật Bản, với sản lượng đứng hàng thứ ba thế giới. Vì vậy, Nguyên Lam xin ông phân tích cục diện này cho thính giả của chúng ta.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin đề nghị là chúng ta cùng nhìn sự thể trong bối cảnh trường kỳ và toàn diện. Việt Nam vừa phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là CPTPP, với 10 quốc gia trong đó có Nhật Bản, Úc, Canada và Malaysia… Việt Nam cũng sẽ hoàn tất Hiệp định Tự do Thương mại với Liên hiệp Âu châu. Vấn đề chính là sau khi ký kết và phê chuẩn thì phải cải cách cơ chế để thực thi các cam kết vì điều ấy thật ra có lợi cho Việt Nam. Chuyện thứ hai, người ta không thể quên vai trò trọng yếu của Nhật Bản trong Hiệp định Đối tác CPTPP và trong những mâu thuẫn muôn mặt với Bắc Kinh. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các chuyện đó mà tôi gọi tắt là “thương chiến Hoa-Mỹ-Nhật” chứ không chí có Mỹ-Hoa.

Nguyên Lam: Trước hết là vị trí và chọn lựa của Việt Nam trong trận “thương chiến Mỹ-Hoa”, thưa ông, đâu là lợi thế và đâu là những trở ngại cho Việt Nam?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Từ nhiều năm trước rồi, Trung Quốc hết còn lợi thế là “công xưởng toàn cầu” với nhân công nhiều và rẻ vì mức lương gia tăng và số lao động không còn dồi dào như trước. Vì vậy, giới đầu tư quốc tế đã phải tìm các thị trường khác và đấy là một lợi thế cho Việt Nam nếu biết nhìn xa hơn mức lương thấp của mình mà chú ý tới tay nghề và năng suất của lực lượng lao động.

– Chuyện thứ hai và nhìn trong trường kỳ, vì Trung Quốc muốn bước lên trình độ sản xuất cao hơn với giá trị gia tăng lớn hơn nhờ các loại công nghệ tiên tiến, Việt Nam cũng phải sớm nghĩ như vậy, chứ không thể đi sau để tìm cơm thừa canh cặn của xứ láng giềng. Việc các doanh nghiệp quốc tế như Intel hay Samsung đầu tư rất mạnh vào Việt Nam là một cơ hội chuyển giao công nghệ cho kinh tế Việt Nam nếu Hà Nội nhìn ra và nhìn xa hơn lợi thế trước mắt là lương thấp.

– Bây giờ, khi thương chiến Mỹ-Hoa bùng nổ – và bùng nổ không chỉ vì hồ sơ thuế khóa hay hạn ngạch – Việt Nam có thể là giải pháp cho giới đầu tư nếu thay cho thị trường Trung Quốc ở các khu vực chế biến. Nhưng Việt Nam sẽ chỉ có lợi nếu có trị giá gia tăng cao hơn và đóng góp vào chu trình cung cấp, cho nên lãnh đạo Việt Nam nên suy nghĩ lại về chiến lược công nghiệp hóa của mình. Ngược lại, nếu tiếp nhận đầu tư của Trung Quốc để sản xuất và xuất khẩu loại hàng rẻ tiền thì kinh tế Việt Nam tiếp tục là vệ tinh của xứ láng giềng để bán nguyên vật liệu của Tầu dưới nhãn Việt Nam cho các thị trường Âu-Mỹ-Nhật.

Nguyên Lam: Ông vừa nêu ra hai vấn đề là, thứ nhất, lãnh đạo Việt Nam nên suy nghĩ lại về chiến lược công nghiệp hóa của mình và thứ hai, kinh tế Việt Nam có thể chỉ là vệ tinh của Trung Quốc để bán hàng của Tầu dưới nhãn hiệu Việt Nam. Nguyên Lam xin đề nghị ông khai triển cho hai ý đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Thứ nhất, chiến lược hay chính sách công nghiệp hoá của Việt Nam phải tận dụng trí tuệ và năng suất hơn nhân công rẻ, và từng bước phải đem lại khả năng đóng góp cao hơn cho người Việt Nam, cho cơ sở sản xuất của Việt Nam thay vì chỉ trông cậy và phục vụ giới đầu tư ngoại quốc. Đấy là chuyện của cả chục năm tới, y như bài toán Hàn Quốc cách nay 50 năm.

– Thứ hai, khi doanh nghiệp Trung Quốc gặp khó khăn trong trận thương chiến với Mỹ mà chuyển đầu tư của họ vào Việt Nam thì họ gây ra nhiều vấn đề. Một là sẽ trả lương cao để thu vét nhân lực sản xuất làm các doanh nghiệp Việt Nam bị chật vật. Hai là họ ngụy trang hàng Tầu dưới nhãn Việt để bán cho xứ khác thì chính Việt Nam sẽ bị trừng phạt vì chỉ là chi nhánh sản xuất của Trung Quốc. Ba là nếu có viễn ảnh sâu xa, lãnh đạo Việt Nam nên nhân cơ hội mà nhìn ra sự khác biệt giữa hai thứ sản phẩm. Hàng hóa cao cấp như điện tử hay phụ tùng ráp chế xuất phát từ Hoa Kỳ, Nam Hàn hay Nhật sẽ có triển vọng lâu dài và giúp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng. Còn các loại hàng dệt may, đồ gỗ hay đồ da chỉ đẩy Việt Nam vào vị trí vệ tinh của Tầu vì mua nguyên liệu Trung Quốc và tái chế với trị giá gia tăng thấp để bán hàng cho Tầu.

Nguyên Lam: Chúng ta bước qua phần hai, khi ông nói tới vai trò của Nhật Bản. Vì sao ông đề cập tới chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Nhật không muốn có chiến tranh với Trung Quốc mà vẫn phải canh chừng vì nằm ngay tuyến đầu của mâu thuẫn về an ninh với Bắc Kinh. Sau Thế Chiến II, Nhật Bản từ bỏ chủ trương bành trướng quân sự để bảo vệ và phát triển ảnh hưởng kinh tế của một quốc gia thiếu tài nguyên nên trở thành chủ nợ và chủ đầu tư lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Ngày nay, Bắc Kinh lại bành trướng quân sự chẳng khác gì Đế quốc Nhật khi xưa, nên vấn đề không chỉ có quan hệ căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc mà còn có Nhật Bản, và nơi mà Thủ tướng Nhật Shinzo Abe thăm viếng đầu tiên sau khi tái nhậm chức vào năm 2012 chính là Việt Nam.

Nguyên Lam: Nguyên Lam thấy ông đang dẫn về đề tài chính của kỳ này là dường như không chỉ có trận thương chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc mà còn có nước Nhật nữa, xin ông giải thích chuyện này cho thính giả của chúng ta.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Trung Quốc có sáng kiến Nhất Đới Nhất Lộ với sáu tẩu lang kinh tế trên đất liền và các dòng giao lưu và hải cảng ở ngoài biển như một thể hiện của quyền lực mềm ở ngoài với chủ trương quân sự cứng rắn bên trong. Sáng kiến đó gây ưu lo cho lãnh đạo Nhật Bản về cả an ninh lẫn kinh tế, nhưng thay vì tìm cách ngăn cản hay triệt phá, Nhật lại bọc xuôi và tìm cách hợp tác với các dự án của Bắc Kinh từ bên trong. Khi thăm viếng Trung Quốc vào tháng trước, Thủ tướng Shinzo Abe chào mừng 40 năm tái thiết bang giao với Bắc Kinh, nhắc tới việc Nhật đã viện trợ cho Trung Quốc cho tới gần đây và bày tỏ thiện chí hợp tác với kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ của Bắc Kinh.

Nguyên Lam: Thưa ông, tại vì Nhật Bản là một bạn hàng của Trung Quốc hay vì lý do gì khác nữa?

Image result for “Nguyễn Lân, RFA phỏng vấn Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi thiển nghĩ là vì khá nhiều lý do. Thứ nhất, dù chẳng nói ra, Bắc Kinh cũng thấy hụt hơi vì tốn kém kinh tế, tài chính và ngoại giao cho sáng kiến Nhất Đới Nhất Lộ của mình. Thứ hai, Nhật Bản kê vai tham dự sáng kiến đó vì có khả năng kỹ thuật và tài chính để nắm vững sự việc từ trong chử không còn đứng ngoài tìm cách ngăn chặn. Thứ ba, Nhật cũng muốn nhân cơ hội này mà tranh thủ các đồng minh nhưng không gây e ngại cho họ như Bắc Kinh.

– Khi đó, ta cũng nên chú ý đến một sự việc bất ngờ là Nhật Bản và Trung Quốc đều cùng tranh thủ các nước Đông Nam Á khi tài trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở trong khu vực. Và ngoại trừ trường hợp Malaysia hay Thái Lan, Nhật mới tài trợ nhiều hơn Trung Quốc cho dự án hạ tầng trong khu vực và nhiều nhất là tại Việt Nam với khoảng 100 tỷ đô la, tính tới đầu năm nay. Trung Quốc thì chỉ tài trợ có chừng 30 tỷ đô la cho Việt Nam mà thôi, vì họ nhắm vào việc khác.

Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta có thể ngạc nhiên khi ông nói Nhật Bản đã từng viện trợ cho Trung Quốc và cho các nước Đông Nam Á thì tài trợ nhiều nhất cho các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở tại Việt Nam. Ông giải thích thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách đúng 40 năm thì Nhật Bản đã viện trợ cho Trung Quốc vẫn còn lạc hậu và sau 30 năm thì mới giới hạn dần loại viện trợ chính thức gọi là ODA, tính ra thì cũng hơn 34 tỷ đô la trong giai đoạn khốn khó của Trung Quốc. Nhật Bản mong là xứ này sẽ trở thành một đối tác có trách nhiệm thay vì là một cừu thù. Nhưng năm 2010 thì sản lượng kinh tế Trung Quốc đã vượt Nhật Bản nhờ dân số đông gấp chục lần nay đã được giải phóng khỏi chế độ tập trung quản lý kinh tế.

– Về phần Việt Nam, Nhật Bản là quốc gia đầu tiên vượt ải cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ từ năm 1992 và từ đó viện trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở cho Việt Nam. Vì yếu tố ý thức hệ, lãnh đạo Việt Nam không muốn công nhận chuyện đó. Bây giờ, tình hình lại đang đổi khác, về cả an ninh lẫn kinh tế, khi Hoa Kỳ và Nhật Bản công khai nói đến việc yểm trợ dự án hạ tầng của các nước trong khu vực Đông Nam Á. Cái khác với kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ của Bắc Kinh là họ phát huy vai trò của tư doanh trong các dự án này. Và ta nên nhìn vào chuyện đó như một lon xăng để khởi động bộ máy tư doanh sau này sẽ tự động vận hành.

Nguyên Lam: Khi đó, thưa ông, chúng ta trở lại bài toán của Việt Nam giữa trận thương chiến. Ông kết luận như thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi nghĩ đây là cơ hội cho Việt Nam thoát khỏi cái không gian chỉ có hai chiều Nam-Bắc, là Việt Nam và Trung Quốc, mà nhìn ra mục tiêu và chiến lược của các quốc gia khác, trong khi đối chiếu với nhiều khó khăn của nội tình Trung Quốc. Giải pháp kinh tế cho Việt Nam xuất phát từ đó. (ngưng trích)

Xin góp ‎ý với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa: nên mách nước cho CSVN hãy vứt bỏ sợi dây xích “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đi, nếu muốn “kinh tế thị trường” phát triển để Việt Nam trở thành một con cọp ở Á Châu. Còn sợi dây xích nặng ngàn cân ấy thì “kinh tế thị trường” không thể nhấc chân lên được, và sẽ chẳng bao giờ là con cọp, con mèo rừng, hay mèo trắng, mèo đen…mà chỉ là con mèo chết.

Ký Thiệt

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*