Huệ Vũ: Ăn cơm mới nói lại chuyện cũ

Trong các thập niên 80 và 90 đa số người Việt ủng hộ đảng Cộng Hòa, và luôn luôn có phản ứng tức giận đối với những người ủng hộ đảng Dân Chủ, mặc dù có thể nói Tổng thống Dân Chủ Jimmy Carter cũng là một ân nhân rất lớn của người tỵ nạn Việt Nam.

Related image

Theo thống kê của Cục Dân Số (Census Bureau), con số người Việt ở Hoa Kỳ trong năm 2016 lên trên 2 triệu người (2.067.527). Người Việt đã tới Hoa Kỳ qua nhiều đợt, nhưng có 2 đợt chính. Sau tháng 4/75, khoảng 125.000 người tới Hoa Kỳ.  Vào năm 1978, làn sóng người Việt dùng tàu thuyền (boat people) vượt biển diễn ra. Năm 1979, Tổng thống Jimmy Carter đã bất chấp sự phản đối của 62% dân chúng Hoa Kỳ, tăng số người Việt được đón nhận vào Hoa Kỳ từ 7.000/tháng lên 14.000/tháng. Với chương trình ODP (Orderly Departure Program) thiết lập vào năm 1979 được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR)) bảo trợ, từ năm 1980-1997 có khoảng trên 458 ngàn người Việt được đón nhận định cư ở Hoa Kỳ.  Tuy vậy, số người Việt được định cư ở Hoa Kỳ lại mạnh mẽ ủng hộ đảng Cộng Hòa.

Vào năm 1992, ở Houston có một nhóm phụ nữ Việt Nam đứng ra vận động cho liên danh Bill Clinton – Al Gore đã bị một ngòi bút tên tuổi gọi họ là bọn “đĩ điếm”.  Vào năm 2000, sau khi TT Bill Clinton mãn nhiệm, ông Al-Gore thất cử đã bùng lên “phong trào” báo chí Việt đả kích Bill Clinton, gọi ông ta là “tổng thống thổi kèn” (vụ Monica), làm ô nhục nước Mỹ, chính quyền Bill Clinton là chính quyền mị dân, đưa ra những con số thống kê kinh tế hoàn toàn lừa bịp!!

Sau cuộc bầu cử năm 2016, phong trào đả kích TT Obama cũng đã bùng phát rất mạnh… lập lại những lý luận cho rằng chính quyền Dân Chủ Obama chuyên mị dân, làm thống kê giả v.v và v.v.

Related image

Hiện giờ con số cử tri người Việt theo đảng Dân Chủ nhiều hơn Cộng Hòa, 39% so với 27%, nhưng chúng tôi nghĩ  rằng vào thập niên 1980, 1990 thì 10 người Việt đi bỏ phiếu bầu Tổng thống Mỹ, hết 7 người bỏ phiếu cho ứng cử viên đảng Cộng Hòa.

Tại sao người Việt ủng hộ đảng Cộng Hòa mạnh như vậy?

Có lẽ tinh thần chống Cộng là một trong những nguyên nhân chính. Với nhiều người Việt tỵ nạn, đảng Cộng Hòa mới tích cực chống Cộng, còn đảng Dân Chủ là đảng thiên tả, không chống Cộng. Một số người Việt theo Công Giáo lại cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị chính phủ Dân Chủ của Tổng thống John F. Kennedy giết chết. Phần lớn thì cho rằng đảng Dân Chủ và Phong Trào Phản Chiến của đảng Dân Chủ đã đưa tới việc Hoa Kỳ phải bỏ rơi VNCH.

Những quan điểm trên có lẽ cần phải xem xét lại

Một số người đã cho rằng chính phủ Dân Chủ của Tổng thống John F. Kennedy đã giết TT Ngô Đình Diệm vì TT Diệm chống lại chủ trương đưa quân Hoa Kỳ qua Việt Nam. Nhưng qua các tài liệu mật trong chiến tranh VN được giải mã, chính quyền Kennedy chỉ bắt đầu quan tâm tới tình hình Nam Việt Nam sau vụ thất bại Vịnh Con Heo. Trung Đoàn 2506 của Mặt Trận Cách Mạng Dân Chủ Cuba được CIA tài trợ đổ bộ Vịnh Con Heo đã bị đánh bại trong thời gian 3 ngày. (17/4-20/4/1961). Sau vụ thất bại Bay of Pigs, chính quyền Kennedy mới bắt đầu lo ngại Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay CS.

Vào ngày 11 tháng 5 năm 1961, Tổng thống Kennedy hạ lệnh đưa 400 quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt và 100 cố vấn quân sự qua VN. Ngày 12 tháng 5/61, Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson qua VN gặp TT Diệm, về nước khen ngợi TT Diệm là “Churchill của Đông Nam Á”, nêu cao chủ thuyết Domino, đề nghị gia tăng giúp đỡ chính phủ Ngô Đình Diệm. Theo PTT Lyndon B. Johnson, nếu để mất Nam VN, quân đội Hoa Kỳ sẽ phải chống CS ở bờ biển Waikiki (Hawaii) hay ngay cả trên bờ biển đất liền Hoa Kỳ. Vào thời gian này, TT Diệm đã yêu cầu Hoa Kỳ đưa 100.000 quân qua VN, nhưng TT Kennedy từ chối, chỉ đồng ý giúp huấn luyện và trang bị cho VNCH thêm 30.000 quân.

Related image

Trong thời gian này cũng đã có sự tranh cãi trong chính phủ Kennedy, Thứ trưởng Ngoại giao Ural Alexis Johnson, Cố Vấn William Bundy ủng hộ đưa 40.000 quân qua VN, nhưng Tướng Maxwell Taylor lại đề nghị chỉ đưa 6.000-8.000 quân. Sau khi tham khảo với Danh Tướng Douglas MacArthur, TT Kennedy quyết định không đưa bộ binh qua VN, sợ sa lầy trong trận địa chiến.  Nhưng ông ta đã ra lệnh cho Ngũ Giác Đài gia tăng các chương trình chống nổi loạn, đưa thêm cố vấn không tham chiến (noncombatant advisers) qua huấn luyện quân đội VNCH, cung cấp thêm dụng cụ truyền tin, phi cơ trực thăng, tiếp liệu quân sự.

Tổng thống Diệm đã phản đối những quyết định trên của TT Kennedy, nói với Đại sứ Frederick Nolting rằng Hoa Kỳ phải đưa quân tham chiến qua VN mới ngăn chận được CS. Đại sứ Frederick Nolting cũng đánh điện về Hoa Thịnh Đốn cho biết chính phủ TT Diệm đang yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia (Đài Loan) cung cấp cho một sư đoàn chiến đấu (a division of combat troops). Bấy giờ Hoa Kỳ quyết định không để VNCH rơi vào tay CS, nhưng Ngoại trưởng Dean Rusk và Bộ trưởng Quốc Phòng Robert McNamara lại cho rằng trước khi đưa quân tham chiến qua VN phải buộc TT Diệm cải cách chính trị. Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, dưới thời TT Diệm, chỉ có đảng Cần Lao là chính đảng duy nhất được hoạt động, các đảng phái Quốc Gia từng có bề dày chống Pháp như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng đã bị thanh trừng triệt để, bị thủ tiêu, bỏ tù…

Trong lúc Hoa Kỳ đang cân nhắc phải can thiệp vào VN như thế nào, thì cuộc “Khủng Hoảng Phật Giáo” xảy ra. Vụ Phật Giáo đứng lên chống chính phủ Ngô Đình Diệm là do cán bộ CS xúi giục, nhưng với cái nhìn của chính giới Hoa Kỳ, Phật Giáo chiếm đa số ở VN, nên khi Phật Giáo đứng lên chống chế độ thì họ cho rằng công cuộc chống Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Bộ Đội Miền Bắc lại càng thêm phức tạp. Chính phủ Kennedy đã lên án bạo động, đòi hỏi TT Diệm nhanh chóng ổn định tình hình. Vào tháng 8 năm 1963, Đại sứ Henry Cabot Lodge nhận lệnh của Thứ trưởng Ngoại Giao George Ball đòi TT Diệm phải từ bỏ ông bà Nhu mới có thể tiếp tục nhận sự yểm trợ của Hoa Kỳ. Đại sứ Lodge đã phúc trình cho Hoa Thịnh Đốn rằng, cơ hội TT Diệm áp ứng đòi hỏi này của Hoa Kỳ gần như không có.

Vào tháng 10/63, Bộ trưởng McNamara và Tướng Taylor qua Saigon tìm sự thực (fact-finding). Sau khi gặp TT Diệm, họ về nước đã khuyến cáo TT Kennedy tiếp tục làm việc với TT Diệm, nhưng ngưng ủng hộ tài chánh và chính trị. Họ cũng đề nghị rút 1.000 quân về nước vào cuối năm 1963. Tới lúc này chính phủ Kennedy hoàn toàn không có kế hoạch đảo chánh nào. Tuy nhiên, vào ngày 3 tháng 10, Trung Tá Lucien Conein tiếp xúc với Tướng Minh, được Tướng Minh trình bày kế hoạch đảo chánh và trong kế hoạch có thủ tiêu anh em ông Diệm.

Related image

Theo phúc trình Assassinations Report, Tổng Giám Đốc CIA John McCone cho biết trong cuộc họp với  Tổng thống Kennedy và Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy, mặc dù Tổng thống Kennedy đã có nhiều quan điểm bảo vệ TT Diệm (vì cả 2 đều là Catholic), nhưng đã đồng ý với khuyến nghị thu thập tất cả các tin tức liên quan tới âm mưu đảo chính của giới tướng lãnh VN. Lúc đó, ở Saigon, Conein gặp tướng Đôn phản đối kế hoạch giết anh em ông Diệm, Tướng Đôn hứa hẹn sẽ không làm trái ý Hoa Kỳ.

Vào ngày 5 tháng 11 năm 2003, cuốn Tape ghi lại các cuộc bàn luận giữa TT Kennedy và các cố vấn của ông ta đã được công bố. Cuốn tape cho thấy mãi tới ngày 29 tháng 10/63, TT Kennedy mới đồng ý giúp cho giới tướng lãnh VN nếu cuộc đảo chánh thành công. Vào ngày này, trong chính phủ Kennedy cũng còn người phản đối đảo chánh. Bộ Trưởng Tư Pháp Robert F. Kennedy nói: “I mean, it’s different from a coup in the Iraq or South American country; we are so intimately involved in this….” (Ý tôi là, cuộc đảo chánh này khác với đảo chánh ở Iraq hay một quốc gia Nam Mỹ, chúng ta đã liên hệ quá chặt trong việc này…).

Theo tài liệu Hoa Kỳ, khi bắt đầu đảo chánh, giới tướng lãnh VN chỉ thông báo cho Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trước 4 phút, và sau đó cắt đứt điện thoại với các cố vấn quân sự. Vào ngày 2 tháng 11, ngày anh em Tổng thống Diệm bị giết, các giới chức Hoa Kỳ như Bộ Trưởng Robert McNamara, Phụ tá An Ninh Michael V. Forrestal, sử gia Arthur M. Schlesinger, Jr. đều cho biết TT Kennedy vô cùng “sốc” khi nghe tin TT Diệm bị giết.  Sử gia Howard Jones nhận định rằng sự xúc động của TT Kennedy lúc ấy cho thấy Hoa Kỳ đã không tiên liệu được diễn tiến cuộc đảo chánh.

Chúng tôi không bình luận chế độ TT Diệm độc tài hay dân chủ, Phật Giáo nổi dậy đúng hay sai, chỉ thuần túy đưa ra những dữ liệu từ phía Hoa Kỳ để có thể thấy rằng Hoa Kỳ không chủ trương giết TT Diệm, và TT Diệm không phải bị Hoa Kỳ lật đổ vì chống lại việc Hoa Kỳ đưa quân qua VN.

Quan điểm đảng Dân Chủ thiên tả, không chống Cộng cũng hoàn toàn trái ngược với lập luận “giết anh em TT Diệm vì TT Diệm chống đưa quân qua VN”. Nếu không chống Cộng, và thiên tả,  thử hỏi chính phủ Kennedy đòi đưa quân qua VN làm để làm gì? Trên 500,000 quân Hoa Kỳ đã được đưa qua VN trong thời TT Johnson để làm gì?

Đi ngược lại lịch sử Hoa Kỳ xa hơn, Từ Thế Chiến Thứ 2 đến nay, Hoa Kỳ đã trải qua 14 đời tổng thống. Tổng thống Franklin Roosevelt (1932-1945), TT Harry Truman (1945-1952) đều là Dân Chủ và họ đã cầm quyền Hoa Kỳ trong thời gian quan trọng nhất của lịch sử, của Thế Chiến, quan trọng nhất trong Chiến Tranh Lạnh. Tại sao lại có thể kết luận Dân Chủ thiên tả, thân Cộng? Những sự kết luận như vậy có cần phải suy gẫm lại hay không?

Cho rằng Phong Trào phản chiến Mỹ đã làm cho Hoa Kỳ phải bỏ VN hoàn toàn đúng, nó là một trong nhiều yếu tố quan trọng, nhưng Phong Trào Phản Chiến Mỹ có phải là do đảng Dân Chủ đứng đàng sau và chủ trương hay không?

Phong trào phản chiến Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1965 với những nhóm sinh viên thiên tả, thân Cộng và quan trọng nhất là tổ chức Students for a Democratic Society (SDS). Có thể vì cái tên có chữ Democratic này nên nhiều người Việt cho rằng phong trào phản chiến là phong trào do đảng Dân Chủ giật dây.

Năm 1965 là năm Hoa Kỳ ồ ạt đưa quân qua VN. Thử hỏi có thể có tình trạng đảng cầm quyền trong lúc đưa quân qua VN lại cùng lúc thúc đẩy phong trào phản chiến để chống lại chính họ hay không? Phong trào phản chiến manh nha từ năm 1965 đã lên mạnh nhất vào năm 1968, nhất là sau Tết Mậu Thân. Cộng Sản đã thất bại thê thảm trong Tết Mậu Thân, khoảng 45.000 bộ đội Bắc Việt và du kích Mặt Trận Giải Phóng bỏ xác tại trận địa, trên 7.000 bị bắt sống, nhưng vụ tấn công này cũng đã gây phản ứng tiêu cực đối với chiến tranh VN của người Mỹ. Theo thăm dò của Gallup trong tháng 3/68, chỉ có 30% dân chúng ủng hộ TT Johnson và chỉ có 6% chấp thuận cách thức tổng thống đối phó với CSVN. Tham gia biểu tình chống chiến tranh VN bấy giờ còn có hội Vietnam Veterans Against the War, họ đi xe lăn biểu tình, ném huy chương xuống đường phố. Phong trào phản chiến này đã làm cho TT Johnson phải tuyên bố không ra tranh cử.

TT Nixon đã đắc cử với lời hứa chấm dứt chiến tranh VN trong danh dự, “Peace With Honor”. Qua nhiều kế hoạch như Việt Nam Hóa Chiến Tranh, cải sửa luật động viên, tấn công các căn cứ quan trọng của CS, đường mòn Hồ Chí Minh, mở rộng chiến tranh qua Lào, Cam Bốt để buộc Hà Nội phải nghiêm chỉnh trong bàn hòa đàm, tạo điều kiện rút quân, nhưng ông ta cũng phải mất 4 năm mới ký Hiệp Định Paris.  Tuy nhiên, Hiệp định Paris 1973 đã được coi chỉ là một hình thức giữ thể diện, “face-saving” cho Hoa Kỳ, không cần nghĩ tới sự sống còn của Miền Nam. VNCH mất vào ngày 30/4/75.

Miền Nam mất khi đảng Cộng Hòa cầm quyền, trong lúc TT Ford đã thay thế TT Nixon vì vụ Watergate, nhưng cũng không thể kết luận đảng CH không chống CS. Họ chỉ phải theo lòng dân Hoa Kỳ để có thể hy vọng được tiếp tục đắc cử, cầm quyền. Chỉ tội nghiệp cho dân tộc VN.

Với chúng tôi, hệ thống lưỡng đảng Hoa Kỳ là một hệ thống ưu việt, hai đảng đều có bề dày lịch sử, bổ túc nhau, thay phiên nhau đưa đất nước đi lên.

Image result for BUSH & OBAMA

Phải thấy rõ các ứng cử Tổng thống Hoa Kỳ trong lúc tranh cử cố gắng tranh luận, bênh vực chủ trương của họ, nhưng khi có kết quả, thì chúc mừng nhau, không chỉ trích nhau. Vào ngày 19 tháng 11 năm 2013, trong chương trình Tonight Show của Jay Leno, khi được hỏi tại sao ông ta không công khai bình luận gì về chính phủ Obama, Tổng thống George W. Bush trả lời: “I don’t think it’s good for the country to have a former president criticize his successor. – Tôi không nghĩ tốt cho đất nước khi một cựu tổng thống chỉ trích người kế nhiệm”. Tinh thần không chỉ trích nhau giữa các tổng thống Hoa Kỳ đã tạo sự thân thiện, cộng tác nhau trong các công tác chung. Vào ngày 2 tháng 5, 2011, TT Obama đã gọi điện thoại thông báo Osama bin Laden bị giết cho TT George W. Bush và lần tưởng niệm vụ 911 lần thứ 10, hai vị cựu TT và đương nhiệm đã cùng tham dự buổi lễ. Vào ngày 7 tháng 9 năm 2017, năm vị cựu Tổng thống Hoa Kỳ gồm Jimmy Carter, George H.W. Bush, George W. Bush, Bill Clinton và Barack Obama đã họp nhau để cùng kêu gọi cứu trợ nạn nhân bão Harvey và Irma. Thử hỏi nếu Dân Chủ là đảng phá hoại nước Mỹ như nhiều cây bút người Việt diễn tả thì các vị cựu TT Cộng Hòa có thể gặp và thân thiện với các TT Dân Chủ hay không? Những nhà báo Việt có thể nói báo chí Hoa Kỳ không đứng đắn, không trung thực, nhưng thử hỏi các nhà sử học Hoa Kỳ, các cơ quan chính trị xã hội Hoa Kỳ cũng “điên rồ” đến độ đánh giá rất cao công trạng Tổng thống Bill Clinton và Barack Obama đối với nước Mỹ hay sao? Tôi nghĩ rằng nhiều người Việt rất yêu nước Mỹ, nhưng không thể tự cho rằng các nhà báo Hoa Kỳ, các sử gia Hoa Kỳ, các nhà khoa học chính trị Hoa Kỳ,  những người Mỹ thực sự đã không yêu nước Mỹ bằng người Mỹ gốc Việt.

Chúng tôi không bác bỏ hay chống lại quan điểm nào. Ủng hộ đảng này hay ủng hộ đảng kia là quyền tự do của mọi công dân Hoa Kỳ, mọi người phải tôn trọng quyền tự do đó. Tuy nhiên, chúng tôi phân vân tự hỏi trải qua mấy chục năm sau khi VNCH mất, cái nhìn của người Việt đối với chiến tranh VN đã thực sự khách quan chưa? Đã đúng chưa? Và, việc chuyên cầm bút đả kích đảng Dân Chủ của người Việt có cần thiết, có lợi gì cho cộng đồng người Việt hay không?

Huệ Vũ

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*